Đức Phật ra đời vì an lạc, hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích, an vui cho chư thiên và loài người. The Buddha appeared in the world for the happiness and welfare of many, for the benefits and happiess of gods and men. 为人天之利乐故,佛出现世间

 
Danh mục chính
Hỗ trợ online
Lượt truy cập
  Số người online:71
  Tổng truy cập: 2172160
Liên kết website
 
ALbum

  Đạo Phật & Dân tộc
NÓI THẬT "trật lỗ tai"

 


 


( hình ảnh Rồng của chùa Hoằng Pháp - xuân Nhâm Thìn )

Năm con Rng đã v trong lòng người dân á châu (mt s nước).Nói đến Con Rng tc là ta nghĩ ngay đến s LINH THIÊNG VÀ DIU K ...Ti sao vy!Bi vì hình nh con Rng  là con vt được "hình tượng trong TÂM THC và HOÀI NIM ca con người vùng á châu mt s nước (trong đó có Vit Nam). 
  Nhìn li trong năm qua chúng ta-nhng người con Pht-thy gì và biết gì trong con mt và tm nhìn...ca mình đối vi không nhng s khi sc ca PHT GIÁO VIT NAM nói riêng và DÂN TC VIT ca chúng ta ! Nói vy để mà hiu sao cho đúng vi PHƯƠNG CHÂM CA GHPGVN LÀ : ĐẠO PHÁP,DÂN TC ,CH NGHĨA XÃ HI .
Phi nói rng Đạo Pht không làm chính tr chính em gì hết ...Thế nhưng chinh BN CHT VÀ CON ĐƯỜNG CA ĐẠO PHT LUÔN  LUÔN GN BÓ VÀ PHÁT TRIN VÌ CON NGƯỜI ,VÌ ĐẠO LÝ VÀ NHÂN SINH ...NÊN ĐẠO PHT VÔ TÌNH ĐÃ LÀM CHÍNH TR BI CHÍNH ĐẠO PHT GN BÓ VÀ ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TC VIT NAM HƠN 2000 NĂM QUA !

  Vì lý do đó mà tôi khai bút viết nên những dòng TÂM HUYẾT này ;ngưỡng mong ai được đọc,được xem...đều là thiện duyên để tạo lên NGHIỆP LÀNH cho năm con Rồng .

  Ông Cha chúng ta cũng đã từng có câu:"ăn Rồng cuốn,nói Rồng leo và làm mèo mửa". Xin quý Vị cố gắng xem bài viết này có như vậy không nhé.

 Với Đạo Phật trong lòng Dân tộc - đồng hành cùng Dân tộc - phải nói là trong năm qua đã có khá nhiều sự kiện,vấn đề đã khởi sắc mang tầm vóc và sức bật mới tạo thuận duyên cho Dân tộc SUNG MÃN VỀ TINH THẦN ...Mặc cho sự "cộng nghiệp" của Dân tộc trước HẬU HOẠ của thế giới - sự suy thoái,thoái trào của thế giới - trước thảm hoạ đã gây ra :nào là các cường quốc dùng sức mạnh trà đạp,răn đe...chi cho quá nhiều ngân sách chiến tranh...gây chiến tranh ,tranh giành,đấu đá chèn ép...những nước nhỏ bé,yếu ớt...nào là đua tranh hưởng thụ ,hưởng lạc trong lục dục....Lòng người chạy theo hưởng thụ mà bỏ bẵng đi cái TÌNH THƯƠNG ĐỒNG LOẠI:"Máu cùng đỏ,nước mắt cùng mặn "do vậy có khá nhiều vụ việc không những ở VN mà đã nhan nhản khắp thế giới ;đó là SỰ VÔ CẢM ,VÔ LƯƠNG TÂM ,KHÔNG CÒN TÌNH THƯƠNG NHÂN BẢN CỦA MỘT CON NGƯỜI...Nhớ những năm  60 và 70 của thế kỷ trước;khi người dân đi làm đồng áng ra về;tuy đã rửa cuốc vác trên vai nhưng khi thấy có "ổ gà" mới xuất hiện là Đồng bào sẵn sàng ngả cuốc ra và dẫy đất cỏ liền lấp ngay vào "ổ gà "đó;chỉ một ví dụ nhỏp đó thôi cũng đủ dẫn chứng là ngày xưa thì vậy ;còn bây giờ VÔ TÂM,VÔ CẢM LẮM LẮM....Hãy đặt câu hỏi : Tại sao vậy? để mà cùng tìm câu trả lời mà hoá giải cho thực tại hôm nay!!!


 1 - Trong Đạo :

Chư Tôn Đức có nhiều công lao với ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC thì đã cao tuổi ,theo quy luật của tạo hoá;mắt mờ chân chậm,sức cống hiến cho Đạo chỉ còn là GƯƠNG ĐẠO PHÁP MỘT ĐỜI TĂNG TUỆ MỆNH...Còn đâu sự hăng say vật lộn với phong trào ,Phật sự...

Phần nhiều hoà nhập cùng thời thế (Phật Pháp bất ly thế gian)để "phục vụ tín ngưỡng như cúng ,lễ ,đàn tràng... để "lo cho "cái túi tu hành" được sung túc,chu tất,không ít vị chỉ lo đầy đủ về vật chất để thoả mãn cá nhân ... mà quên rằng chính mình là "người ăn mày thiên hạ"!?Số lượng các Quý Thày luôn luôn day dứt chăm lo cho phong trào Phật sự của Phật giáo để góp phần vừa TRẤN HƯNG PHẬT GIÁO LẠI VỪA CHĂM CHÚT CHO LUÂN THƯỜNG ĐẠO LÝ ,TÌNH NGƯỜI ...VÀ SỰ AN LÀNH,HẠNH PHÚC TRONG XÃ HỘI PHẢI NÓI LÀ SO VỚI MẤY TRĂM NGÀN TĂNG ,NI TRONG CẢ NƯỚC THÌ NHƯ THẾ LÀ QUÁ ÍT.....Các Cụ ta thường nói:"một cây làm chẳng nên non;ba cây chụm lại nên hòn núi cao....". Chúng ta ai cũng đều rõ là GIÁO LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO PHẬT LÀ :  " NHÂN QUẢ,QUẢ BÁO VÀ LUÂN HỒI...."

  Vậy mà khá nhiều vị ,nhiều người có hiểu biết vẫn cứ  "coi Trời bằng vung".

2 - Ngoài Đạo:

Tôi không muốn đả động đến chính trị,chính em gì hết nhưng tôi muốn nói rõ là : ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG của người ĐÀY TỚ NHÂN DÂN bị sa sút nhiều quá,kinh tế nhà nước bị những người có thế lực dùng tiền của nhà nước để kinh doanh dẫn đến thua lỗ quá nhiều như tập đoàn VINASIN  và TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VN và sẽ có cả TẬP ĐOÀN THAN VÀ KHOÁNG SẢN VN mà coi.....Không ngày nào mà báo chí mạng và đài không đưa tin nơi này hay nơi kia xảy ra tham nhũng,những vụ án cứ nối tiếp hoài về kinh tế....

Năm con Rồng là năm bứt phá để vươn lên . Xin hãy ĐỪNG "NHÂN ĐẠO" để người ta rút ruột ngân khố Quốc gia ,kết bè,kết cánh vơ vét,tham nhũng đủ đường vào túi cá nhân hay bè cánh...Thử hỏi những năm cuối cùng trong thập kỷ 80 của thế kỷ 20 ! Nếu không có NVL và NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY thì Tổ Quốc VN có mở mày mở mặt được khồng?!!!

Phải kịp thời ra tay :

1 - Chấn chỉnh ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG của người ĐÀY TỚ nhân Dân.

2 - Dân chủ thực sự,đấu tranh phê bình và tự phê bình thực sự đó là nguồn nước tinh khiết - nguồn nước "CAM LỒ"  để GỘT RỬA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN . Từ bấy lâu nay đã có ký kết giao kèo giữa chính quyền và MTTQVN về việc : CÁC CẤP CỦA MẶT TRẬN THAM GIA XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN .Về việc này thực sự chỉ có ở trên giấy tờ  và chủ trương! Thực tế thì mờ tịt ;do không có sự nhiệt tình và phương pháp cụ thể....

3 - Phải xử lý nghiêm minh những vụ phạm pháp có tổ chức ,kéo bè kéo cánh đưa những người cùng ê kíp với mình để "chén chú,chén anh" như thế là cực kỳ nguy hiểm cho VẬN MỆNH CỦA SƠN HÀ,XÃ TẮC NON SÔNG!

 4 - Với Đạo Phật thì phải bày tỏ NIỀM TIN THỰC SỰ,đừng có mập mờ ví như trong các tờ lý lịch TẠI SAO LẠI GHI : TÔN GIÁO : KHÔNG . Thế là thế nào ? phải tôn trọng và TẾ NHỊ,KHÉO LÉO....Những nhà doanh nghiệp hay doanh nhân khi  phát tâm đưa tiền CÔNG ĐỨC XÂY CHÙA,TÔ TƯỢNG ,ĐÚC CHUÔNG PHẢI CÓ SỰ KIỂM CHỨNG XEM VỊ SƯ ĐÓ CÓ PHỤC VỤ CHÚNG SINH CHU ĐÁO VÀ TẬN TÂM HAY KHÔNG ? NÓI LÀM TỪ THIỆN THÌ CÓ LÀM KHÔNG VÀ PHẢI RÕ RÀNG RÀNH MẠCH....Nhiều ngôi chùa ở thôn quê hay vùng xa,vùng cao hiện còn khá siêu vẹo xập xệ ...vậy mà nhiều quý Thày vẫn âm thầm trì tụng tu hành trong niềm tin cao cả.. Đúng là "Nơi ăn không hết,nơi lần không ra ...."

5 - Về nghĩa cử với Cổ Đức,tiền nhân : Phải ghi nhớ công ơn các Anh hùng Dân tộc bằng việc làm cụ thể và các gia đình chính sách ,có công đang oằn mình với đời sống nhân sinh... và Đồng bào lao động nghèo... và những nhà giáo những người đang chăm lo không những DẠY CHỮ mà còn phải DẠY NGƯỜI có nhân cách ,nhân phẩm,lương tri,đạo đức cho thế hệ tương lai của Dân tộc như Bác Hồ đã ghi trong Di Chúc: là phải đào tạo thế hệ trẻ không những " có hồng và phải  chuyên" ( hồng và chuyên ở đây là gì? )  nhiều thày ,cô giờ vẫn chưa rõ  ....và đời sống còn bất cập thì  dạy học làm sao chu toàn,chọn vẹn,đạt kết quả được .

Tóm lại:

Ở đời cái DANH và cái LỢI  là cực kỳ nguy hại như nhau.Chính nó đã làm mọi người chay đua và sa ngã ,bất chấp tất cả vì nó . Còn trong Đạo Phật thì nói : Vì VÔ MINH ,TAM ĐỘC THAM SÂN SI mà sinh ra mọi tội lỗi ....Lúc này là năm con Rồng ;phải biết vươn lên mà SÁM HỐI , MÀ PHÊ BÌNH VÀ TỰ PHÊ BÌNH ;ĐỒNG THỜI

 NHÂN ĐẠO LÚC NÀY LÀ TỰ SÁT . TAM THÁNH TỔ TRÚC LÂM ĐÃ TỪNG RĂN DẠY CHÚNG TA :ĐẠO PHÁP TRONG LÒNG DÂN TỘC,ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY SẴN SÀNG CỞI ÁO CÀ SA MẶC ÁO CHIẾN BÀO ĐÓ SAO !


    Lời ngỏ khai bút đầu xuân . Ngưỡng mong Quý liệt  Vị cho ý kiến vào mục liên hệ để được "liễu chi" tu chỉnh .

  Nam mô hoa hỷ Bồ Tát Ma Ha Tát .

 





Để làm sáng tỏ và phong phú thêm cho bài viết khai bút đầu xuân này .Tôi được phép trích dẫn bài viết của GS Cao Huy Thuần mà trang phattuvietnam.net đã cho đăng tải vào dịp Tết Nhâm Thìn này :

Aung San Suu Kyi và hồn của nước
Kích thước chữ: Decrease font Enlarge font
image

Dù đêm tăm tối bao nhiêu, mặt trời vẫn lại mọc. Sự thực đó, thế giới đang thấy ở Myanmar. Nhưng có một sự thực khác nữa thế giới cũng vừa thấy qua con người của bà Aung San Suu Kyi: cường bạo đàn áp bao nhiêu, sức mạnh tinh thần vẫn thắng. Bà nói như thế từ lâu, nghe khó tin. Nhưng sự thực đã là sự thực. Ai cho bà sức mạnh đó? Cái hồn của nước bà. Cái hồn ấy, ai cũng biết: đạo Phật của bà.

Tất nhiên, bà còn có niềm tin mãnh liệt về dân chủ. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn nói ở đây. Tôi chỉ muốn tìm hiểu tại sao một nước theo Phật giáo nguyên thủy như Myanmar, trong đó các sư sãi thường ít lo lắng đến chuyện xã hội bằng chuyện tu hành bản thân, lại diễn ra những quang cảnh tấn công chùa chiền, bắt bớ tăng ni, làm như thử Phật giáo ở Miến Điện đã “dấn thân” tự bao giờ trong chính trị.

Có thật thế chăng? Và nếu có liên hệ thì tôn giáo và chính trị đã liên hệ với nhau như thế nào trong lịch sử? Tôi không có tham vọng trả lời câu hỏi có tính nghiên cứu đó trong một bài báo xuân ngắn ngủi. Tôi chỉ xin kể, và kể rất giản lược, vài chuyện có liên quan đến câu hỏi đó để điểm lại quá khứ và suy đoán tương lai.

Chuyện đầu tiên mà tôi muốn kể là từ bao giờ dân tộc Miến Điện mang cái hồn ấy. Từ xa xưa. Và bởi vì quá xa xưa nên sự thực lịch sử nhiều khi trộn lẫn với truyền thuyết. Người dân Miến Điện kể rằng đức Phật đã đến đất của họ lần đầu bằng tóc của Ngài. Chuyện này có thật trong kinh. Sau khi đức Phật thành đạo và đang tĩnh tọa dưới cây bồ đề thì có hai thương nhân từ phương xa đi qua đó. Họ cung kính dâng thức ăn cho Ngài và xin quy y. Đó là hai đệ tử đầu tiên của Phật. Khi về lại xứ, họ xin Ngài vài sợi tóc để thờ. Nhà vua xây tháp để thờ tám sợi tóc. Tháp ấy bây giờ là ngôi chùa vàng danh tiếng Shwedagon ở cựu thủ đô Yangon.

Lần thứ hai, đức Phật đến bằng chân. Một thương nhân khác, tên là Punna, đã đến tận Savatthi, nơi đức Phật đang thuyết giảng, và được Ngài thâu nhận vào tăng chúng. Sau một thời gian tu học, ông xin Phật cho đi giáo hóa. Phật nói: dân xứ ấy dữ lắm, ông giáo hóa bằng cách nào? Ông thưa: con sẽ không bao giờ giận dù cho họ giết con. Chuyện này cũng có thật trong kinh. Nhưng chi tiết tiếp theo thì tôi chưa thấy ở đâu.

Punna giáo hóa thành công, xây được một tu viện, và mời Phật đến thăm. Ngài đến với 500 vị tăng. Khi trở về, đức Phật dừng chân bên sông Nammada, gần dãy núi Saccabandha. Một vết chân của Ngài in dấu không phai gần bờ sông, một vết chân khác in dấu trên núi.

Hai vết chân bây giờ là hai thánh tích, ngày xưa được vua thờ, ngày nay là đất hành hương của dân chúng.

Đức Phật còn để lại cả hình ảnh của Ngài. Truyền thuyết ghi rằng bức tượng thờ ở chùa Mahamuni cho đến năm 1784 là do vua và dân tạc sau khi được đón rước Phật tại vương quốc Dhannavati. Tượng ấy sau đó được thỉnh về chùa Arakan ở Mandalay.

Tất cả những sự kiện, vừa lịch sử vừa truyền thuyết đó, nói lên một điều: người dân Miến Điện hãnh diện về nước của mình như là đất của Phật, Phật đã đến đó và đã để lại xá lợi cho dân.

Hơn ở đâu hết, đất đó còn là đất Phật vì gần 90% dân số cùng thờ một đạo. Hơn ở đâu hết, người dân dù nghèo đến bao nhiêu cũng thực hành công đức như một nếp sống bình thường, cúng dường chư tăng, tô điểm chùa chiền.

Người bên ngoài, Tây phương và cả không Tây phương, đều không hiểu tại sao dân chúng nghèo như thế mà vẫn chắt chiu dành dụm để kiếm chút vàng làm rực rỡ thêm tượng Phật. Họ không hiểu, nhưng chính điều không hiểu đó đã làm người Miến Điện thành người Miến Điện.

Hành trì công đức là lẽ sống của người dân Miến. Tạo công đức ở kiếp này làm họ vui. Càng nhiều công đức càng vui. Kiếp này họ vui, kiếp sau họ hưởng. Sống là như vậy. Không phải ăn, mặc, nhà cao cửa rộng là căn bản. Tu ấy là tu phước, nhưng cũng là tu hạnh, hạnh ấy là bố thí, là biết cho, không phải dễ đâu.

Thú thực, bản thân tôi cũng không hiểu nổi người Miến cho đến khi tôi đọc bà Aung San Suu Kyi. Bà nói: “Quan tâm đầu tiên của tôi là theo sát những nguyên tắc của đức Phật trong mọi hành động của tôi trên đời. Như vậy là bởi vì tôi tin rằng tất cả chúng ta, như là người, đều có một bề sâu tâm linh không thể lơ đãng được”.

Phong trào dân chủ của bà, bà xem đó như là một “cách mạng tâm linh” mọc rễ từ trong những nguyên tắc Phật giáo. Và khi người ta hỏi bà “đức tính gì nằm tận trong thâm sâu của phong trào ấy”, bà nói không ngần ngại: “Sức mạnh bên trong. Chính là sự vững chãi tâm linh đến từ tin tưởng rằng cái gì ta làm là đúng, dù cho điều đó không mang đến lợi lộc cụ thể tức thì. Chính là sự kiện này: điều ta đang làm giúp ta củng cố sức mạnh tâm linh của ta. Sức mạnh này ghê gớm lắm”.

Bởi vậy, trong khi ở nơi khác, phát triển kinh tế là kinh nhật tụng, ở Miến Điện, phát triển kinh tế chỉ là phương tiện, mục đích là đời sống tâm linh của người dân. Tranh đấu cho độc lập trước đây cũng vậy. Tại sao phải độc lập? Tại vì, như một câu hát của các người làm cách mạng thời 1930, độc lập là để phục hồi lại phồn vinh của ngày xưa, “để người nghèo cũng có thể xây dựng chùa chiền”. Đó là mục đích của đời sống, đó là hạnh phúc của người dân.

Tôi nói thêm một điều nữa về đặc tính của Phật giáo Miến Điện trước khi bắt qua chuyện thứ hai: trên đất Phật ấy cũng có một tín ngưỡng lâu đời của dân gian, gọi là Nat, thờ thần, tin bùa chú, phù phép, ưa nhảy múa. Tín ngưỡng ấy hồn nhiên chung sống hòa bình với Phật giáo, nhưng Phật là Phật, thần là thần, đâu có hồn nhiên lẫn lộn được, lát nữa tôi sẽ nhắc lại vấn đề này. Bây giờ, xin bắt qua chuyện thứ hai.

Chuyện thứ hai là chuyện liên hệ giữa quyền lực và giáo hội tăng già. Một tác giả có uy tín đã viết thế này: “Miến Điện có lẽ là nước hạnh phúc nhất thế giới trước khi người Anh đến… không có quý tộc, không có tăng lữ, không có Nhà Thờ, không có quân đội, không có nghèo khổ, đẳng cấp, địa chủ, ngân hàng”. Một xã hội bình đẳng, từ thiện.

Đúng hay không, tôi không dám nói, nhưng không có Nhà Thờ thì quá đúng. Không có Nhà Thờ trong cái nghĩa của Tây phương, nghĩa là một uy quyền tôn giáo duy nhất, tập trung, tập quyền, đối chọi với nhà nước, có khi ngang ngửa, có khi trội hơn.

Tôi tạm dùng chữ “giáo hội tăng già” để dịch chữ sangha, nhưng sangha không phải là một tổ chức tập trung, tập quyền, tôn ty trật tự, đẳng cấp phân minh, dưới phục tùng trên, trên chỉ huy dưới.

“Giáo hội” ở nước ấy chưa bao giờ ra khỏi mẫu mực tương quan nguyên thủy trong lịch sử, nghĩa là tương quan giữa tín đồ và chư tăng, trong đó tín đồ là người cúng dường và chư tăng là người thọ lãnh. Người cúng dường cung cấp phẩm vật, người thọ lãnh cung cấp phước đức. Trong ý nghĩa đó, ông vua chỉ là người đứng đầu của một tập thể cúng dường, có trách nhiệm duy trì hòa bình, phồn vinh, để ai ai cũng có thể thực hiện công đức. Trách nhiệm đó trao cho ông một quyền: gìn giữ cho đạo Phật được “tinh khiết”. Với quyền đó, ông là trọng tài khi cần thiết để xử những tranh chấp xảy ra liên quan đến giáo lý. Với quyền đó, ông là người bảo vệ đạo Phật.

Nhưng như vậy là ông có quyền can thiệp vào nội bộ của giáo hội. Ông can thiệp thông qua một “tăng thống” mà ông bổ nhiệm. Thế nhưng giáo hội đã không phải là một khối đồng nhất thì tăng thống có thực quyền gì trên các chi, các nhánh, sinh hoạt tự trị trong các làng xã, có trường riêng, tự viện riêng, do làng xã địa phương lập nên? Rốt cuộc, dù ông vua có nắm được “giáo hội” ấy, tập thể chư tăng vẫn sinh hoạt độc lập với đời sống riêng, và tăng thống chỉ là chiếc cầu lỏng lẻo giữa vua với một giáo hội chủ yếu là tự trị.

Để cụ thể hóa hình ảnh chiếc cầu lỏng lẻo ấy, ví dụ sau đây rất lý thú. Suốt cả thế kỷ XVIII, ông vua và tăng thống không giải quyết nổi một tranh chấp để “tinh khiết” giới luật. Đầu thế kỷ, vài vị tăng đi khất thực, khoác y như khi đi trong chùa, nghĩa là một vai để trần. Đừng tưởng đây là chuyện chơi trong một nước Phật giáo nguyên thủy, giữ giới luật như giữ con ngươi. Để trần một vai như vậy có đúng luật không? Hết vua này đến vua khác, vua này nói được vua kia nói không. Cả trăm năm không xử nổi một chiếc vai!

Tình trạng tự trị trong giáo hội lại càng phát triển vào những giai đoạn loạn lạc, ngay cả trước khi người Anh xâm chiếm. Phe phái xuất hiện, thiết lập kỷ luật riêng, tòa án riêng, thậm chí “tăng thống” riêng.

Vua Mindon (1853 - 1878) cố tăng cường can thiệp trực tiếp vào nội tình giáo hội, nhưng người Anh đã đến, Miến Điện bị chia hai, Hạ Miến Điện lọt ra khỏi chủ quyền của vua. Chính sách tôn giáo của người Anh, áp dụng trên cả nước, khi cai trị toàn thể Miến Điện, là không cần biết đến giáo hội nữa, tôn giáo với chính quyền là hai, giống như luật lệ ở mẫu quốc.

Các tôn giáo ở phương Tây tràn đến, Phật giáo không còn có ông vua nào nữa để đóng vai bảo vệ. Nhưng như thế mà hay, vì các ông sư bây giờ, sống ngoài vòng cương tỏa, đóng vai bảo vệ độc lập của nước.

Họ là những người đầu tiên thắp lên ngọn đuốc tranh đấu, những người đầu tiên liên kết với cư sĩ, với trí thức, để tạo thành mạng lưới chính trị chống đế quốc đầu tiên trong những năm 1920, 1930. Và như vậy tôi bước qua chuyện thứ ba.

Chuyện thứ ba là chuyện ông U Nu, thủ tướng đầu tiên của nước Miến Điện độc lập. Một nhân vật xuất chúng. Một lãnh tụ lỗi lạc. Một nhà chính trị được thế giới kính nể. Một con người dân chủ. Một Phật tử sùng đạo.

Tham gia tranh đấu trong mạng lưới đầu tiên của trí thức trẻ Phật giáo (YMBA), ông là lãnh tụ của đảng chính trị đầu tiên tranh đấu chống phát xít (AFPFL) sau khi Aung San bị ám sát. Độc lập vãn hồi, ông chủ tâm phục hưng lại Phật giáo.

Một mặt, ông lồng Phật giáo vào hệ ý thức mới mang màu sắc xã hội của thời đại và gọi đó là “xã hội chủ nghĩa Phật giáo”. Trung thành với văn hóa truyền thống, chủ nghĩa xã hội của U Nu nhằm thực hiện lý tưởng cổ truyền: hạn chế tham lam của người giàu, tạo thì giờ rảnh rỗi cho người nghèo, để ai cũng có thể tích cực thực hành công đức.

Mặt khác, ông không ngại can thiệp vào nội bộ Phật giáo, thành lập các tòa án của giáo hội để chấn chỉnh kỷ luật, tổ chức lại hệ thống giáo dục mà chùa chiền đảm nhận từ xưa, thành lập viện hóa đạo, chỉnh đốn đại học Phật giáo, kiết tập đại hội Phật giáo thế giới để nâng cao vai trò của Phật giáo Miến Điện trên thế giới Phật giáo, xây dựng chùa chiền…

Ý thức rằng Phật giáo là yếu tố tinh thần duy nhất để kết hợp và hòa nhập các chủng tộc ít người trong một nước đa chủng bấp bênh hiểm họa ly khai, ông cố thiết lập một giáo hội lan tỏa ra tận các chủng tộc sát biên giới.

Tóm lại, U Nu hành động như một vị quân vương ngày xưa trong mối liên hệ giữa Phật giáo và lãnh đạo chính trị: người lãnh đạo bảo vệ Phật giáo, giáo hội ban cấp tính chính đáng cho chính quyền.

Nhưng giáo hội bây giờ đã quen chia thành khuynh hướng, phe nhóm rồi, ai cũng trọng ông U Nu như một thánh vương, nhưng người này trách ông bảo vệ Phật giáo như vậy là chưa đủ, người kia lại cho rằng ông đi như vậy là quá xa. Tình trạng trở nên trầm trọng khi ông đặt vấn đề Phật giáo là quốc giáo vào trung tâm của tranh cử năm 1960. Đảng của ông đã tách ra làm hai trên những tranh chấp khác lại càng chia rẽ hơn trên vấn đề quốc giáo này.

Kết quả là đảng của phe U Nu đại thắng trong tuyển cử vì dân chúng ủng hộ chủ trương của ông. Nhưng đại thắng này không đủ giúp ông ở lại chính quyền lâu dài. Cùng với những khó khăn về kinh tế, chống đối của các chủng tộc, hiểm họa ly khai, bất an ninh ở biên giới, những biện pháp ủng hộ Phật giáo của ông như cấm giết bò, áp dụng lịch Phật giáo, chuyển đổi án tử hình, hòa giải với phe cộng sản... tạo cơ hội cho quân đội làm đảo chánh, dựng lên một chế độ độc tài tàn bạo dài dằng dẵng từ 1962 cho đến gần đây.

Tôi bắt đầu bài viết này với tóc của Phật. Là bởi vì chế độ độc tài ấy không có cách nào để lấy lòng quần chúng hiệu nghiệm hơn là khai thác lòng sùng kính của dân đối với xá lợi Phật. Do đó, chính sách rước răng Phật từ Trung Quốc đưa về được tổ chức cực kỳ hoành tráng trong cả nước suốt 45 ngày.

Cũng vậy, tín ngưỡng Nat với bùa chú phù phép được khích lệ tối đa, đẩy lùi Phật giáo vào thời tiền hiện đại.

Rồi cũng vậy, tướng tá xây chùa tráng lệ không thua gì những ngôi chùa tráng lệ nhất, ông này xây một chùa thì ông kia xây hai. Ta đây sùng đạo có thua ai! Chắc chắn là không thua ai về khoản tiếp thị: hình ảnh các ông tướng mộ đạo xuất hiện bên cạnh các sư sãi, chùa chiền, rước Phật, hành hương tràn đầy trên màn ảnh, báo chí.

Riêng cái khoản giáo hội tăng già, các ông tưởng nắm chắc trong tay, hóa ra chỉ nắm cái bóng, cái hình đã phân tán thành nhánh, thành cành, âm thầm tỏa bóng xuống khắp xã hội, vừa an ủi vừa duy trì sức mạnh.

Tương lai là chuyện thứ tư xin kể. Chắc chắn Phật giáo Myanmar sẽ không có một ông U Nu thứ hai. Nhưng Phật giáo ấy cần gì quốc vương khi đã là cái hồn của dân tộc? Vấn đề là: hình hài của dân tộc Miến đã lớn mạnh rồi, đã hấp thụ những món ăn tư tưởng mới, thở không khí của thời đại mới, tắm trong dòng sông có nhiều con nước mới đổ vào, vậy thì cái hồn ấy có hằng thường được chăng?

Tôi đang thấy hồn ấy nhập vào hình hài dân chủ nơi một người phụ nữ mảnh khảnh mà sáng ngời trí tuệ và lòng tin Phật. Tôi muốn được cùng với bạn bè Myanmar đọc vài câu đã thốt ra từ miệng người phụ nữ tự nhận mình là một Phật tử bình thường ấy.

Lạ thật, từ một người tranh đấu chống bạo lực, tôi nghe nhấn mạnh bao nhiêu lần lòng từ bi: “Phật giáo đại thừa đặt nặng từ bi hơn Phật giáo nguyên thủy. Tôi cảm nhận sâu xa điều đó, bởi vì chúng ta cần rất nhiều từ bi trên thế giới này. Tất nhiên, từ bi cũng là một phần của Phật giáo nguyên thủy. Nhưng tôi muốn nhiều người hơn nữa trong dân tộc chúng tôi mang từ bi vào hành động”.

Từ bi trong chính trị? Chính vậy! “Khi đức Phật muốn ngăn cản hai phe sắp chiến tranh, Ngài đến và đứng giữa hai bên. Hai bên có thể làm hại Ngài trước khi giết nhau. Nhưng như thế, Ngài bảo vệ cả hai. Ngài bảo vệ người khác bằng cách hy sinh thân mạng của Ngài”.

Nhưng sợ đã thành thói quen rồi trong xã hội. Làm sao bảo người ta từ bi? “Mọi chuyện đã xảy ra chỉ vì không đủ tích cực từ bi. Có một liên hệ trực tiếp giữa tình thương và sợ hãi. Kinh từ bi dạy: “Như mẹ hiền yêu thương con một”. Đó là từ bi đích thực. Bà mẹ có thể hy sinh thân mạng vì thương con mình. Tôi nghĩ chúng ta cần thứ tình thương đó nhiều hơn nữa chung quanh chúng ta”.

Nếu những lời trên đây xuất phát từ một ông thầy tu, tôi không ngạc nhiên. Xuất phát từ một người đã từng đứng trước mũi gươm làn đạn, đó là bài học cho cả thế giới về sức mạnh của tâm linh.

Bài học mà đức Phật đã dạy: từ bi đi đôi với vô úy. Đừng sợ! Và bởi vì không sợ cho nên không giận. Đức Phật dạy bà đừng giận. Bà không hề giận trong khi chống lại đối thủ của bà.

Mới đây thôi, trong cuộc viếng thăm của ngoại trưởng Hillary Clinton, bà nhắc nhở lần nữa: “Khi tôi bắt đầu đi vào chính trị, tranh đấu cho dân chủ, tôi luôn luôn khởi đi với ý nghĩ rằng dân chủ là một quá trình sẽ mang lại hạnh phúc lớn hơn, hòa hợp lớn hơn, và hòa bình lớn hơn cho dân tộc tôi. Và điều đó không thể thực hiện được nếu chúng tôi bị trói chặt trong giận dữ và ý muốn trả thù. Bởi vậy tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng con đường phía trước là phải đi qua giận dữ và cay đắng, mà phải đi qua hiểu biết lẫn nhau, cố gắng hiểu phía kia, và đi qua khả năng thương thuyết với những người suy nghĩ hoàn toàn khác với ta, đi qua khả năng đồng ý trên bất đồng ý nếu cần thiết, để làm thế nào rút ra hòa hợp từ những cách suy nghĩ khác nhau”.

Một bài học dân chủ và một bài học Phật giáo.

Cuối cùng bà đã chiến thắng. Nhưng ngay cả trong đêm tối mịt mù của đàn áp, bà vẫn quả quyết: “Trong đạo Phật, có bốn yếu tố để thành công, để chiến thắng. Ý muốn tốt, hành động đúng, dõng mãnh tinh tấn, trí tuệ bát nhã. Các nguyên tắc đạo đức đó là căn bản, tránh cho ta khỏi lạc đường. Với những nguyên tắc đó, ta sẽ đi đến được bất cứ nơi nào ta muốn. Chúng tôi không cần gì thêm”.

Trong đau khổ chung của dân tộc Myanmar, Phật giáo Miến Điện ngàn xưa đã hiện đại hóa với người phụ nữ ấy. Đạo Phật đó, ngôn ngữ hiện đại ngày nay gọi là “đạo Phật dấn thân”.

http://www.phattuvietnam.net/tetnguyendan/trochuyen/17768.html

 

Đạo Phật và Chính trị
         26/05/2009 13:39 Bình Anson (trích dịch) 

    Ðức Phật xuất thân từ giai cấp vương tướng, và do đó, Ngài đã có nhiều liên hệ với các vị quốc vương, hoàng tử, quan lại trong triều đình. Mặc dù có nhiều liên hệ như thế, Ngài không bao giờ dùng các thế lực chính trị để truyền đạo, và Ngài cũng không bao giờ cho phép giáo pháp của Ngài bị lợi dụng cho các ý đồ chính trị. 

Thế nhưng ngày nay, đã có nhiều người có ý gán ghép danh hiệu của Ngài với những chủ thuyết khác nhau. Tuy nhiên, các hệ thống chính trị mà chúng ta quen thuộc ngày nay là bắt nguồn từ phương Tây, xảy ra sau thời kỳ Ðức Phật còn tại thế một thời gian rất lâu. Ðối với những Phật tử chúng ta, Ðức Phật là bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác, vượt lên trên các chuyện lo âu, phiền muộn của thế gian. Có một vấn đề cơ bản mà ta phải nhận định khi tôn giáo bị pha trộn với chính trị. Căn bản của tôn giáo là đạo đức, lòng trong sạch, và đức tin; trong khi đó, căn bản của chính trị là quyền lực. Trong tiến trình lịch sử, tôn giáo thường bị lạm dụng để hợp thức hóa những người cầm quyền và sự áp dụng của quyền lực. Tôn giáo đã bị lạm dụng để biện minh cho chiến tranh và thôn tính, đàn áp, chém giết tàn bạo, nổi loạn, tàn phá các công trình văn hóa và nghệ thuật.

Khi tôn giáo bị sử dụng để gia tăng thế lực chính trị thì tôn giáo sẽ phải hi sinh các lý tưởng đạo đức cao quí và trở nên mất gốc, nhượng bộ cho các thế lực chính trị trong thế gian.

Mục đích của Phật Pháp không phải nhắm đến việc thành lập các định chế và cơ cấu chính trị mới. Trên cơ bản, tôn giáo tìm cách giải quyết các vấn đề trong xã hội bằng cách giáo hóa mỗi cá nhân, vốn là thành viên của xã hội, và bằng cách đưa ra các nguyên tắc tổng quát để điều hướng xã hội tiến đến một phong thái nhân bản, cải thiện đời sống của mọi thành viên, và cổ động sự phân phối các nguồn vật lực một cách công bằng hơn.

Bất cứ một thể chế chính trị nào cũng có một giới hạn trong sự bảo vệ hạnh phúc và sung túc của người dân trong thể chế đó. Không một hệ thống chính trị nào, dù rằng có vẻ rất lý tưởng, có thể mang lại hạnh phúc và hòa bình nếu người dân trong thể chế đó còn bị bao trùm bởi lòng tham lam, sân hận, và si mê. Thêm vào đó, còn có những nhân tố phổ quát mà từng cá nhân trong xã hội phải trực diện: kết quả của các nghiệp thiện và bất thiện của riêng mình, và sự khiếm khuyết và thiếu vắng của một nền an lạc trường cửu, vì bản chất của thế gian vốn là hoạn khổ, vô thường, và vô ngã. Ðối với những người con Phật, không một nơi nào trong thế giới Ta Bà luân hồi nầy có được một tự do, giải thoát thật sự, kể cả các cõi trời lạc thú của chư thiên.

Một hệ thống chính trị tốt và công bằng - có những bảo đảm cho các quyền căn bản của con người, và có những định chế giám sát và cân bằng việc sử dụng quyền lực - là điều kiện quan trọng cho cuộc sống hạnh phúc trong xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bỏ quá nhiều công sức và thì giờ để tìm kiếm đến vô tận một hệ thống chính trị toàn hảo để giúp con người được hoàn toàn tự do. Tự do tuyệt đối không thể nào có được trong các định chế chính trị, mà chỉ có được trong tâm thức khi nó được giải thoát. Ðể được giải thoát, chúng ta cần phải nhìn vào nội tâm của chính mình, và nỗ lực giải phóng nó ra khỏi các gông xiềng của vô minh, hận thù và tham dục. Tự do trong ý nghĩa đích thực tuyệt đối chỉ có được khi nào chúng ta dùng Chánh Pháp để phát triển tâm ý qua lời nói và hành động hướng thiện, và để huân tập tâm ý, để phát triển tiềm năng tâm linh, đạt đến cứu cánh tuyệt đối của giác ngộ.

Mặc dù chúng ta công nhận về sự lợi ích trong việc tách rời tôn giáo và chính trị, và về các giới hạn an lạc và hạnh phúc mà hệ thống chính trị mang đến, nhưng cũng có nhiều khía cạnh trong các lời dạy của Ðức Phật có những tương quan với các bố cục chính trị ngày nay.

Thứ nhất, Ðức Phật đã giảng dạy về tính cách bình đẳng của con người - cả mấy ngàn năm trước tuyên ngôn của ông Abraham Lincoln (Tổng Thống Mỹ). Ngài dạy rằng các giai cấp, tầng lớp trong xã hội chỉ là những hàng rào nhân tạo do xã hội dựng ra. Việc sắp xếp thứ bậc của loài người, theo lời Ngài, chỉ có thể dựa trên phẩm chất giới hạnh của họ mà thôi.

Thứ hai, Ðức Phật khuyến khích tinh thần hợp tác bình đẳng và tích cực tham gia đóng góp trong xã hội. Ðây là một tinh thần đã được cổ võ trong tiến trình chính trị của các xã hội hiện nay.

Thứ ba, Ngài đã không chỉ định một người nào để kế thừa Ngài. Ngài chỉ dạy rằng, mọi người phải tự mình mà tu học, lấy Chánh Pháp làm nền tảng và làm nơi nương tựa. Các thành viên của Tăng Ðoàn chỉ chịu sự hướng dẫn của Giáo Pháp và Giới Luật (Dhamma-Vinaya) - như là một bộ luật sinh hoạt. Cho đến ngày nay, mỗi tu sĩ của Tăng Ðoàn đều phải tuân thủ bộ Giới Luật đó để làm kim chỉ nam hướng dẫn cho mọi sinh hoạt tu học của mình.



Thứ tư, Ðức Phật đã khuyến khích tinh thần tham vấn và tiến trình dân chủ. Ðiều nầy được thể hiện qua cộng đồng tăng sĩ, trong đó mỗi thành viên đều có quyền quyết định về các vấn đề chung. Khi có một nghi vấn nghiêm trọng cần phải được giải quyết, các vấn đề có liên quan được đem ra giữa các tu sĩ để thảo luận trong một phương cách tương tự như trong hệ thống quốc hội ngày nay. Tiến trình tự quản trị nầy có lẽ sẽ làm nhiều người ngạc nhiên vì nó đã được áp dụng trong các cộng đồng tăng sĩ Phật Giáo tại Ấn Ðộ trong 2.500 năm trước đây, và phương cách điều hành có rất nhiều điểm tương đồng với các thủ tục thảo luận trong quốc hội.

Một tu sĩ, tương tự như vị “phát ngôn nhân“, được chỉ định để có một tiếng nói chung, đại diện cho cộng đồng. Một tu sĩ khác, tương tự như vị “chủ tịch“, được bầu ra để điều hành diễn đàn. Các vấn đề được đưa ra như các nghị trình để được thảo luận công khai. Trong một vài trường hợp, khi vấn đề đó có tính cách nghiêm trọng và phổ quát, thì nó có thể được đem ra thảo luận nhiều lần, tương tự như các vòng thảo luận của quốc hội về các dự luật. Nếu qua các cuộc thảo luận mà vẫn còn nhiều ý kiến xung khắc, bất đồng, thì vấn đề sẽ được biểu quyết qua một cuộc bỏ phiếu để lấy quyết định theo đa số.

Ðạo Phật khuyến khích nền tảng đạo đức và việc sử dụng quyền lực cộng đồng với ý thức trách nhiệm. Ðức Phật tuyên giảng về hòa bình và bất bạo động như là một thông điệp phổ quát. Ngài không chấp nhận bạo lực và hủy hoại sinh mạng. Ngài tuyên bố rằng, không có một chiến tranh nào là chiến tranh của công lý. Ngài dạy: “Người thắng tạo căm thù, kẻ thua sống khổ sở. Người nào từ bỏ thắng và bại thì người đó sống an vui và hạnh phúc.“ Chẳng những Ðức Phật dạy về hòa bình và bất bạo động, có lẽ Ngài cũng là vị Giáo Chủ đầu tiên và duy nhất đã ra tận chiến trường để tìm cách ngăn chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi họ muốn khởi sự đánh nhau vì tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết phục vua Ajatasanu bỏ ý định tấn công vương quốc của bộ tộc Vaiji.

Ðức Phật đã giảng dạy về sự quan trọng và về các điều kiện thiết yếu của một chính phủ tốt. Ngài dạy rằng khi người lãnh đạo chính phủ tham nhũng và bất công thì xứ sở trở nên tham nhũng, băng hoại, và đau khổ. Ngài chống lại sự tham nhũng và đã dạy rằng chính phủ phải biết quản trị dựa trên các nguyên tắc nhân ái.

Ngài nói: “Khi người lãnh đạo xứ sở có tính công bình và thiện ái thì triều đình có tính công bình và thiện ái. Khi triều đình có tính công bình và thiện ái thì các quan chức có tính công bình và thiện ái. Khi các quan chức có tính công bình và thiện ái thì các cán bộ hạ tầng có tính công bình và thiện ái. Khi các cán bộ hạ tầng có tính công bình và thiện ái thì người dân có tính công bình và thiện ái.“ (Tăng Chi Bộ Kinh).

Trong Kinh Cakkavatti Sihananda (Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, Trường Bộ), Ðức Phật nói rằng các điều hung ác và tội phạm, như ăn cắp, lường gạt, bạo lực, thù ghét, bạo tàn, v.v. đều bắt nguồn từ sự nghèo khó. Quốc vương và triều đình có thể dùng sự trừng phạt để kiềm chế tội phạm, nhưng không bao giờ có thể tiêu trừ các tội phạm bằng quyền lực của mình.

Trong Kinh Kutadanta (Cứu-la-đàn-đầu, Trường Bộ), Ðức Phật chủ trương phát triển kinh tế, thay vì dùng quyền lực, để xóa giảm tội phạm. Triều đình phải biết sử dụng các nguồn tài nguyên để cải thiện điều kiện kinh tế trong nước. Họ phải biết phát triển nông nghiệp ở thôn quê, trợ giúp giới buôn bán, cung cấp lương bổng đầy đủ cho công nhân để bảo đảm một đời sống tốt có nhân phẩm.

Trong Kinh Bổn Sanh (Jakata), Ðức Phật có đưa ra 10 nguyên tắc của một chính quyền tốt, gọi là “Thập Vương Pháp“ (Dasa Raja Dhamma). Mười nguyên tắc nầy vẫn có thể áp dụng trong thời đại ngày nay cho bất cứ một chính quyền nào, để quản trị xứ sở một cách hài hòa. Ðó là:

1. Phải cởi mở và không ích kỷ;
2. Duy trì đạo đức cao;
3. Sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân để phục vụ cho an sinh của dân chúng;
4. Phải thành thật và ngay thẳng;
5. Phải dịu dàng và giàu lòng nhân ái;
6. Phải sống giản dị để làm gương cho dân chúng;
7. Phải vượt lên trên mọi hận thù;
8. Biết áp dụng tinh thần bất bạo động;
9. Biết nhẫn nại;
10. Tôn trọng ý kiến dân chúng, và biết phát triển sự hòa bình và hòa hợp.

Về cách hành xử của người lãnh đạo thì Ngài giảng thêm (Kinh Cakkavatti Sihananda):

- Người lãnh đạo tốt phải biết cư xử công bình, không thiên vị bất cứ nhóm nào;

- Người lãnh đạo tốt không bao giờ gieo lòng thù hận trong dân chúng;

- Người lãnh đạo tốt không bao giờ ngần ngại áp dụng luật pháp khi cần thiết;

- Người lãnh đạo tốt phải thông hiểu luật pháp rõ ràng mỗi khi áp dụng. Luật pháp không phải áp dụng chỉ vì người ấy có uy quyền, mà phải được áp dụng hợp tình và hợp lý.

Bộ Mi-Lan-Đa Vấn Ðạo (Milanda Panha) có viết: “Nếu người nào không có tài năng, không đạo đức, không phạm hạnh, không xứng đáng là vua, mà lại tự mình tôn xưng là vua hay người lãnh đạo với nhiều quyền lực thì người ấy sẽ bị nguyền rủa và trừng phạt bởi dân chúng, bởi vì người ấy, vì không xứng đáng và không tài năng, đã tự đặt mình một cách vô lý vào vị trí của người lãnh đạo. Người lãnh đạo, cũng như những người đã vi phạm các nguyên tắc đạo đức và giới luật căn bản của xã hội loài người, sẽ bị trừng phạt như bao nhiêu người khác, nhất là đối với những người lãnh đạo ăn cắp tài sản của dân chúng.“ 

Kinh Bổn Sanh cũng có đề cập đến người lãnh đạo nào mà chỉ trừng phạt người vô tội và không trừng phạt người phạm tội thì người lãnh đạo ấy không xứng đáng lãnh đạo xứ sở.

Vì vậy, Trung Bộ Kinh cũng có nói về vị quốc vương biết tự thăng tiến và lúc nào cũng nỗ lực gìn giữ hành động, lời nói và tâm ý, lúc nào cũng biết lắng nghe ý kiến của dân chúng về sự cai trị của mình, để biết mình có phạm lỗi lầm nào không trong khi điều hành đất nước. Nếu vị quốc vương ấy cai trị xấu, người dân sẽ than phiền rằng họ đang bị phá hoại bởi một vị lãnh đạo xấu vì các chính sách hà khắc, nhũng lạm, bất công, sưu cao thuế nặng, và do đó, dân chúng sẽ có phản ứng chống lại vị vua ấy. Ngược lại, nếu vị vua cai trị tốt, thì dân chúng sẽ chúc tụng: “Cầu xin cho quốc vương của chúng tôi được trường thọ.“

Lời dạy của Ðức Phật về các bổn phận đạo đức của vua chúa để sử dụng công quyền, bảo đảm an sinh người dân, đã giúp cho vua A Dục (Asoka), vào thế kỷ 3 trước Tây lịch, cai trị đất nước của ông. Hoàng Ðế A Dục, là một thí dụ điển hình của nguyên tắc đạo đức nầy, đã sống và thực hành Chánh Pháp cho tất cả mọi người dân trong triều đại của ông. Ông quảng bá chính sách bất bạo động đến các vương quốc lân cận, cam đoan các thiện ý của ông, và gửi sứ giả đi khắp nơi để truyền bá thông điệp hòa bình và bất bạo động. Ông cổ võ sự ứng dụng của các nguyên tắc đạo đức trong xã hội, như chân thật, từ bi, bác ái, bất bạo động, nhân từ, không hoang phí, không chiếm đoạt, và không gây sát hại cho mọi loài vật. Ông khuyến khích tự do tôn giáo và bình đẳng tương kính giữa mọi đức tin. Ông thường du hành thuyết giảng Ðạo Pháp đến người dân ở tận thôn quê. Ông thiết lập các công trình công cộng như bệnh xá, cung cấp thuốc men, trồng cây gây rừng, đào giếng, các công trình thủy lợi, và nhà tạm trú. Ông cũng đặc biệt ngăn cấm việc đối xử tàn ác với các loài thú vật.

Có người cho rằng Ðức Phật là một nhà cải cách xã hội. Trong các bài giảng, Ngài đã lên án hệ thống giai cấp và Ngài công nhận quyền bình đẳng của con người. Ngài giảng về nhu cầu cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội, công nhận tầm quan trọng của việc phân bố công bằng các của cải giữa người giàu và nghèo, nâng cao vị trí của phụ nữ, khuyến khích việc áp dụng tinh thần nhân bản trong guồng máy hành chính. Ngài dạy rằng xã hội phải được điều hành trên tình thương và lòng từ bi, chứ không dựa vào lòng tham lam. 

Hơn thế nữa, sự đóng góp của Ngài cho nhân loại còn cao quí hơn, vì Ngài còn đi xa hơn các nhà cải cách xã hội thời đó, vì không ai đã có thể chỉ thẳng vào cốt lõi của các cơn bệnh trong tâm thức của con người. Chỉ ở trong tâm thức thì sự cải cách mới thật sự có ý nghĩa. Các cải cách bên ngoài do các quyền lực áp đặt thì chỉ có hiệu quả ngắn hạn vì nó không có cội rễ. Chỉ có cải cách nào dựa trên căn bản cải thiện tâm thức thì nó mới có cội rễ vững chắc. Có cội rễ vững chắc thì các cành nhánh của cải cách xã hội mới được phát triển tươi tốt, vì chúng được nuôi dưỡng bởi nguồn sinh lực liên tục, đó là nguồn tâm lực của dòng sinh hóa trong cuộc đời. Như thế, các cải cách xã hội chỉ có thể khả thi khi nào mà tâm ý của con người đã được sửa soạn sẵn sàng cho các việc đó. Các cải cách đó sẽ tiếp tục sống mạnh khi nào mà con người sẵn sàng nuôi dưỡng chúng qua sự chuyên cần và tôn trọng sự thật và công lý, tôn trọng đời sống của đồng bào của họ.

Giáo thuyết của Ðức Phật không dựa trên một “Triết lý Chính trị“ nào cả. Giáo thuyết nầy không khuyến khích con người đi vào con đường hành lạc vật chất. Giáo thuyết nầy vạch ra con đường đưa đến giải thoát tối hậu, là Niết Bàn. Nói một cách khác, mục tiêu tối hậu của Giáo thuyết ấy là đoạn diệt lòng tham ái vốn đã cột chặt con người trong vòng trầm luân, khổ ải. Một câu kệ trong Kinh Pháp Cú (kệ 75) đã tóm tắt điều nầy: “Con đường đưa đến thủ đắc vật chất là một con đường, còn con đường đưa đến Niết Bàn là một con đường khác.“

Ðiều nầy không có nghĩa là các Phật tử không nên tham gia vào tiến trình chính trị, vốn là một thực tại xã hội. Ðời sống của mọi người trong xã hội được uốn nắn bởi luật pháp và các qui định, bởi các bố trí kinh tế của quốc gia, bởi guồng máy 
quản trị hành chính, và như thế chịu ảnh hưởng của các bố cục chính trị của quốc gia đó. Tuy nhiên, nếu người cư sĩ Phật tử có ý muốn tham gia chính trị thì người đó không nên lạm dụng tôn giáo để mưu đồ tạo các quyền lực chính trị cho mình.

Tóm lại, Ðức Phật là bậc Giác Ngộ, vượt lên trên mọi vấn đề của thế gian. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời hoằng dương Chánh Pháp, Ngài luôn luôn có những lời dạy quí báu cho các quốc vương và triều đình để quản trị tốt xứ sở của họ.

Theo: Gems of Buddhist Wisdom 
Đánh dấu lên:  del.icio.us |  Digg 
Phản hồi (1 bài gửi): 
Tấn Phát vào lúc 18/11/2009 04:15 

Thật tuyệt vời ! cảm ơn Tác giả Binhansoon đã có bài xác đáng. Đạo Phật là nhập thế, cứu đời...-cứu khổ,cứu nạn... Đạo Phật không trực tiếp làm chính trị hay tham gia hoạt động chính trị. Thế nhưng việc làm và con đường tiếp chúng ,độ nhân... của Phật giáo Nhập thế đã minh chứng những lời Phật dạy qua các Kinh điển mà Tác giả đã chuyển tải đến với độc giả Phật tử Việt Nam.nét .
Mong rằng “Cán bộ là người đày tớ của Dân...“ . Như Lời Bác Hồ đã dạy đó ! Thực hiện tốt 10 điều trên đây ( Đặc biệt điều thứ 6 )Thì đó chính là TÂM TRỊ . Không cần phải dùng nhiều đến PHÁP TRỊ. Không khác gì câu nói của Bác Hồ : “ Đảng viên đi trước Làng Nước theo sau...“. 
Có như vậy công cuộc xây dựng Xã hội Công bằng,dân chủ và văn minh . Mới đem lại hiệu quả ! Còn nếu không thì chỉ là hô hào , khẩu hiệu,nói suông thôi !
Xin cảm ơn Tác giả . 
  ( Bài này được lấy từ Trang phật tử Việt Nam nét )



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
      


                                                                                  Giác Hạnh





Phật giáo với việc cai trị đất nước
image

Nhiều người lầm tưởng rằng, Phật giáo là tôn giáo chỉ dạy người ta con đường cắt ái ly gia, xa dời xã hội để tu hành mong cầu giác ngộ, giải thoát. Mà người ta không biết đến lý do rất sâu sắc và nhân văn rằng, chính vì lợi ích của chúng sinh, xã hội, vì lòng thương tưởng với đời mà Đức Phật thị hiện, thuyết vi diệu pháp trên cuộc đời này.

Vì vậy, trong giáo lý của mình, Đức Phật đã phương tiện chỉ bày pháp nhân thừa, khuyến tấn con người để thực hiện trọn vẹn trách nhiệm công dân, từ việc ứng xử trong gia đình đến ngoài xã hội của một con người bình thường, và rộng hơn nữa là cách thức trị quốc an dân của bậc quân vương, người đứng đầu, lãnh đạo đất nước.

Khi vua Ưu Điền vương hỏi Đức Thế Tôn về cách thức trị quốc, Đức Phật đã chỉ dạy rằng “Đại vương nên biết rõ những việc: thất bại, công đức, suy tổn, đáng trân trọng, cần thực hiện và nhân duyên phát khởi pháp đáng trân trọng, cần thực hiện của người đứng đầu đất nước và áp dụng nó trong việc trị quốc sẽ được thành công. Bằng không, tuy nhà vua có kho tàng đầy dẫy, tôi giỏi phụ tá, và quân đội hùng mạnh cũng không được dân chúng quy ngưỡng, công nghiệp trị nước cũng bị phá hỏng (*). Trong đó, những điều thất bại của người đứng đầu, lãnh đạo đất nước là:
 
1- Chủng tộc không cao sang: Điều này được hiểu là, vị vua do bậc thứ thần, hay giai cấp hạ tiện sinh ra, không thuộc dòng dõi sang quý. Kẻ lên làm vua không đúng dòng long phượng, không phải người được lựa chọn kế vị mà là kẻ tiếm vị hay nhưng đối tượng khác, nghĩa là không phải người xứng đáng và không được thần dân lựa chọn, suy tôn.
 
2- Không được tự tại, chủ động và chính kiến: Điều này nghĩa là, nhà vua bị quan phụ tướng đại thần khống chế, việc làm không được tùy ý, thường gặp sự can ngăn, cho nên những thú vui riêng cũng không được tự do. Kẻ đứng đầu nhà nước như thế khi quyết định một việc gì cũng bị chi phối bởi các quan khanh, đặc biệt là những người giữ trọng trách và có bè đảng. Như thế, ý kiến, sắc lệnh của vua ban ra không thể theo chính kiến và khó vì mục đích phục vụ nhân dân.
 
3- Tính tình hung bạo: Điều này chỉ người lãnh đạo, đứng đầu đất nước có tính bạo ác đối diện và bối diện. Tánh bạo ác đối diện là khi bầy tôi hay kẻ khác có chút lỗi nhỏ, liền giận dữ la hét, dùng lời thô tháo quở mắng ngay trước mặt, thêm xử phạt, biếm truất. Tánh bạo ác bối diện là dù kẻ ấy không có mặt tại đó, cũng vẫn quở mắng (sau lưng), gây mất uy tín, hạ thấp danh phẩm của khanh tướng, rồi nặng thêm nữa gia hình phạt tội, hoặc hằng đem lòng giận ngầm không quên.
 
4- Nóng giận quá đáng: Chỉ vị quốc vương tính quá nóng, khi thấy bầy tôi phạm lỗi nhỏ, hơi vượt kỷ luật, liền tước hết bổng lộc, đoạt hết mọi điều kiện đãi ngộ, đem hình phạt nặng mà phạt tội.
 
5- Ân huệ hẹp hòi: Mặc dù kẻ thần thuộc, hầu cận hết sức trung kiên thanh bạch hợp với tâm mình, nhưng vua chỉ dùng lời nhu nhuyễn an ủi, nếu có ban thưởng cũng là phần chút ít không xứng đáng với công lao. Hoặc có khi vua lưu dụng lâu, hay để cho phục dịch nhiều rồi mới thi ân huệ, khen thưởng. Khi ấy chả còn mấy giá trị của sự khen thưởng, động viên khích lệ người có công.
 
6- Nghe lời tà nịnh: Vị quốc vương không minh mẫn và nghe tiếng ngọt ngào, lời luận bàn a dua nịnh bợ của một nhóm thần thuộc. Những kẻ này thật ra chẳng phải hạng trung lương, không hiểu rành quốc pháp, không có tài trị nước, hay ganh ghét bậc hiền thần, chỉ xu phụ theo vua để gây thế lực bè đảng riêng. Do bởi quốc vương ưa nghe lời của bọn tà nịnh ấy, mà kho tàng hao thiếu, công vụ ngưng trệ, thiện chánh không lưu hành, cho đến quốc thể bị ô nhục và tiếng tốt của vua cũng tiêu tan.
 
7- Không gìn giữ được pháp chế của tiên vương: Vị quốc vương không biết xem xét lựa chọn đức tính, khả năng của bầy tôi. Vì thế, trong việc nước, kẻ không năng lực và đạo đức lại ủy nhiệm trọng trách, người có thể ủy nhiệm lại không ủy nhiệm, việc đáng phong thưởng mà hình phạt, việc đáng hình phạt lại phong thưởng. Ðây gọi là không duy trì nổi luật pháp, không gìn giữ được giáo mạng của tiên vương.
 
8- Chẳng nghĩ đến pháp lành: Nhà vua không tin nhân - quả, không hiểu nghiệp báo lành, dữ ở tương lai, từ nơi thân, khẩu, ý tùy tình tạo những ác pháp. Ðã thế mà vua lại không huệ thí, tu phúc, trì trai, học giới, tu hành theo phép Phật và phát tâm Từ - Bi - Hỷ - Xả.
 
9- Không đoái đến việc phải quấy hơn kém: Vị quốc vương dụng tâm điên đảo, không nhận biết rõ những sự trung tín, tài năng, trí tuệ của bầy tôi. Vì thế đối với kẻ không trung tín tưởng là trung tín, kẻ bất tài tưởng là tài năng, kẻ nông cạn sai lầm tưởng là trí tuệ. Lại đối với hạng thần thuộc có công phụ tá hầu hạ gần gũi mình lâu năm, thấy họ suy già không còn thế lực, cố ý lơ lãng không sanh tâm mến trọng, không cấp cho bổng lộc để đền đáp, biết họ bị kẻ khác lăng miệt cũng bỏ qua không thăm hỏi.
 
10- Buông lung, phóng dật: Nhà vua say đắm theo thú vui ngũ dục, không tự dè dặt giới hạn, không làm những việc đáng làm, không ủy lạo phong thưởng kẻ có công. Nhà vua như thế không thể làm gương cho thiên hạ, khó có thể nhiếp phục và cai trị thiên hạ.
 
Nếu người đứng đầu đất nước vướng phải mười điều thất bại như trên, tuy có kho tàng đầy dẫy, tôi giỏi phụ tá, quân đội hùng mạnh, dân chúng cũng không quy ngưỡng, chẳng bao lâu trong nước sẽ sinh tai họa biến loạn.
 
Để khuyến hóa các bậc đế vương, người đứng đầu đất nước thực hiện tốt trọng trách của mình, Đức Thế tôn cũng chỉ cho những điều đáng trân trọng mà họ cần phải thực hiện để phát khởi những điều thiện lành trong việc cai trị đất nước, đó là:
 
1- Ân dưỡng thương sinh: Chỉ về vị quốc vương, người lãnh đạo tính biết vừa đủ, hay cẩn thận không tham lam, thành tựu được hạnh trong sạch. Kho tàng có bao nhiêu, vua đều tùy phận đem ra cấp thí cho những kẻ nghèo khổ côi cút, lại thường nhẫn nhục nhu hòa, đem lời êm dịu mà hiểu dụ trong dân chúng. Các bầy tôi nếu ai phạm pháp, vua lường công tội mà tha thứ, dù phải trách phạt cũng hợp thời, hợp lý, và có bằng chứng rõ ràng. Do nhà vua dùng ân đức, chánh đạo mà trị hóa thương sinh như thế, nên được dân gian yêu kính.
 
2- Ðầy đủ anh dũng: là vị quốc vương mưu lược và võ bị đều đầy đủ, kẻ chưa hàng phục có thể hàng phục, người đã hàng phục lại gia sức hỗ trợ việc trị nước.
 
3- Phương tiện khéo léo: Đó là vị quốc vương biết rành rẽ việc trị nước, khéo dùng phương tiện mà điều hòa nhiếp phục những cường đảng, nên hay dẹp yên được tất cả oán địch.
 
4- Giỏi về việc điều nhiếp: Người đứng đầu đất nước khéo suy tính sự tăng giảm của kho tàng, nên việc chi dụng được đầy đủ. Vị quân vương như thế không xa hoa hoặc bỏn sẻn, biết tùy thời mà chu cấp cho trong thân quyến, bầy tôi, và tất cả kẻ thuộc hạ. Khi những người nầy hay chính mình đau yếu, lại khéo lo việc thuốc thang, biết lựa chọn các thức đáng ăn hay không đáng ăn. Lúc có muốn ăn ngon thì đem phân chia đồng nhau, khiến cho những người tùy thuộc đều hoan hỷ.
 
5- Siêng tu pháp lành: Người đứng đầu đất nước, muốn trăm họ lê dân hòa hợp, đồng lòng, tránh xa những việc xấu ác, thường làm các việc thiện thì vị quốc vương đó phải có lòng tin trong sạch, nhận chắc có đời sau và những quả báo lành dữ. Trong ngày lục trai mỗi tháng và ba tháng trường trai mỗi năm, vua đều thọ trì và giữ các tịnh giới như: không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói vọng, không uống rượu và buông lung theo các việc vui chơi. Vua lại ưa nghe học về lý nhân - quả, pháp Bát - nhã và các diệu môn của thánh đạo, siêng năng nghiên cứu cho thông đạt cùng tiến tu đức nghiệp. Ðối với những kẻ quan, quả, cô, độc, nghèo khổ, tật bệnh, vua thường thi hành việc làm nhân đạo, mang quốc khố để cứu vớt không có chút tâm bỏn sẻn, hối tiếc. Với những bậc Sa - môn học rộng, có giới hạnh, vua thường gần gũi hỏi han, và xa lánh các giáo phái tà ác. Chẳng những thế vua còn đốc suất quyến thuộc, quần thần cùng trì trai giữ giới, bố thí làm lành. Trên đây là những điều: chánh tín, giữ giới, cầu học, bố thí, tịnh huệ của nhà vua biết siêng tu pháp lành.
 
Trên đây là những điều căn bản cần thiết đối với người đứng đầu đất nước, Đức Phật đã tùy thuận người hỏi là một vị quân vương mà chỉ dạy cho đạo trị quốc. Nếu thực hiện được những điều ấy thì không những đất nước cường thịnh, chư hầu quy thuận mà trăm họ lê dân còn một lòng quy ngưỡng tuân phục sự lãnh đạo và gia sức cống hiến cho sự phát triển vững bền của quốc gia. Trong đó, có những điều là phương pháp trị quốc an dân, nhưng có những điều lại gắn với việc tôi rèn, tu sửa và vun bồi nhân cách cho bản thân người giữ vị trí lãnh đạo.
 
Đất nước cường thịnh hay suy vi còn phụ thuộc vào thời cuộc và nhiều lý do khách quan, chủ quan, nhưng không thể không đề cập đến vai trò quan trọng nhất của người đứng đầu đất nước. Những nội dung và lời lẽ trên đây đã được Đức Phật nói ra cách nay đã mấy nghìn năm nhưng nếu suy xét kỹ nó vẫn đáp ứng được tính thời sự của đòi hỏi xã hội hiện nay, và chúng ta vẫn thấy nó còn nguyên giá trị thực tế dù đã qua hơn 2.000 năm tồn tại và phát triển./.
 
Nguồn: Ban Tôn giáo Chính phủ;

( Từ: phattuvietnam.net )









Xa rời giới luật trong nếp sống thiền gia

 

 

 

ĐỂ MINH CHỨNG CHO NHỮNG DÒNG KHAI BÚT ĐẦY TINH THẦN TRÁCH NHIỆM VỚI SƠN HÀ -XÃ TẮC

    Xin được lấy một tin từ trang của Tuổi trẻ onlin ra ngày 9-2-2012 để Bạn đọc có thêm tư liệu...

Thứ Năm, 09/02/2012, 05:40 (GMT+7)

Thẳng thắn nhìn nhận thực trạng trong Đảng

TT - Đó là nhận định của ông Trần Trọng Tân - nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên trưởng Ban Tư tưởng văn hóa trung ương - về nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI.

Ông Trần Trọng Tân - Ảnh: M.Đức

- Ông Trần Trọng Tân nói:

Có ý kiến cho rằng Nghị quyết Trung ương 4 lần này không có gì mới, có mới chăng là chờ xem những giải pháp đề ra trong nghị quyết sẽ được triển khai vào thực tiễn như thế nào. Tôi không đồng tình với nhận định này. Theo tôi, Nghị quyết Trung ương 4 có nhiều điểm mới. Đó là sự nhìn nhận thẳng thắn thực trạng mọi mặt trong Đảng, chọn trúng ba vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, trong đó đã coi việc ngăn chặn “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống...” lên hàng đầu. Đó là đã chỉ rõ nguyên nhân và đề ra một hệ thống giải pháp đồng bộ gồm bốn nhóm. Trong đó nhóm giải pháp về thực hiện gương mẫu của cấp trên được nêu lên hàng đầu là rất đúng. Trong mỗi nhóm đều có nêu ra những việc cụ thể. Đây là lần đầu tiên Trung ương Đảng có một nghị quyết “bắt mạch, kê toa” chi tiết như thế.

"Tôi cho rằng yếu tố đột phá phải bắt đầu từ Bộ Chính trị, từ Ban Bí thư. Nếu các ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức được cuộc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình sâu sắc, thẳng thắn rồi báo cho tận các chi bộ, đảng viên biết, chắc chắn sẽ thúc đẩy các cấp ủy Đảng cấp dưới làm theo, tạo ra một sinh khí mới"

* Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng những hạn chế trong Đảng và những sai phạm trong một bộ phận đảng viên như thế đã tồn tại từ lâu, đến nay mới được nhìn nhận một cách công khai mà thôi?

- Đúng là những biểu hiện sai phạm không phải gần đây mới xuất hiện, nhưng vấn đề là đánh giá thực trạng đó như thế nào cho thật khách quan, không vơ đũa cả nắm. Nghị quyết thừa nhận có vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp” cần được hiểu rằng phần lớn cán bộ, đảng viên vẫn tốt, vẫn kiên định tư tưởng chính trị, vẫn giữ được phẩm chất đạo đức tốt đang đóng vai trò chi phối trong sự lãnh đạo của Đảng. Chính nhờ đó mà công cuộc đổi mới đất nước giành được nhiều thắng lợi to lớn. Phải chăng trong công tác tư tưởng thời gian qua chưa làm cho dư luận xã hội nhìn nhận rõ sự thật này? Trung ương Đảng lần này báo động thực trạng tình hình nhưng trong tâm thế bình tĩnh. Chúng ta cũng cần đón nhận Nghị quyết Trung ương 4 một cách tỉnh táo để góp sức xây dựng Đảng, dứt khoát không để những kẻ xấu lợi dụng, bôi đen Đảng ta.

* Những giải pháp được Hội nghị Trung ương 4 đề ra trong nghị quyết, theo kinh nghiệm của ông, đâu là yếu tố đột phá và liệu có cần đề xuất thêm những giải pháp khác?

- Có lẽ khoan hãy bàn những giải pháp khác, trước mắt chúng ta mong Nghị quyết Trung ương 4 triển khai và thực thi thật khẩn trương.

Tôi còn nhớ tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã từng thực hiện một cuộc kiểm điểm trong Bộ Chính trị rất hay. Tổng bí thư đã tự phê bình mình trước tập thể, chẳng những nói ưu điểm mà nêu ra cả khuyết điểm rất thẳng thắn rồi mới lần lượt đến các đồng chí khác. Cuộc kiểm điểm đó được ghi biên bản cụ thể và gửi cho các ủy viên Trung ương. Ngày nay các vị ủy viên Bộ Chính trị học và làm theo Bác Hồ như thế nào nếu được cho dân biết sẽ rất hay.

* Nghị quyết Trung ương 4 yêu cầu việc kê khai tài sản phải trung thực và được công khai ở nơi công tác, nơi cư trú. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?

- Việc kê khai tài sản phụ thuộc vào sự trung thực của từng cán bộ, anh khai bao nhiêu thì biết bấy nhiêu nên công tác kê khai này chỉ mang tính hình thức, cho đủ thủ tục mà thôi. Trong thực tế, đối với những tài sản có được từ ăn cắp của công, ăn hối lộ... thì không ai chịu kê khai đâu.

Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải đánh giá xem anh sống như thế nào, tác phong trong công việc ra sao, sinh hoạt, tiêu xài hằng ngày thế nào, quan hệ với bà con lối xóm ra sao. Cái này thì anh không thể che đậy được. Đạo đức, nhân cách, lối sống của anh ra sao, người dân với trăm nghìn mắt sẽ nhìn thấy hết. Vấn đề là làm sao vận động người dân, các đoàn thể chính trị - xã hội giám sát và thông tin cho Đảng, cho Nhà nước để kịp thời phát hiện, biểu dương được những gương tốt và góp phần chấn chỉnh, xử lý những cán bộ, đảng viên hư hỏng.

* Thưa ông, cũng có một thực tế khác là lâu nay vấn đề xử lý kỷ luật trong Đảng chỉ được công khai chừng mực nên chưa thuyết phục được người dân về tính nghiêm minh, từ đó chưa khuyến khích người dân chủ động tố giác vi phạm của cán bộ, đảng viên?

- Xử lý kỷ luật trong Đảng là một vấn đề quan trọng. Trước đây chúng ta quá thận trọng và nghĩ rằng đây chỉ là vấn đề mang tính nội bộ nên việc công khai thông tin ra bên ngoài có hạn chế. Một vài năm gần đây kết quả xử lý kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên giữ chức vụ quan trọng, được thông tin nhiều hơn đến người dân qua các phương tiện thông tin đại chúng. Việc thực hiện nghiêm minh kỷ luật trong Đảng và công khai trong toàn Đảng, toàn dân là điều mà chúng ta hướng tới.

* Không ít bạn trẻ hiện có suy nghĩ chỉ cần làm một quần chúng tốt mà không cần phấn đấu vào Đảng. Ông suy nghĩ như thế nào về vấn đề này?

- Không thể trách họ. Đối với giới trẻ, các bạn đoàn viên, thanh niên, đây là lực lượng đông đảo và rất quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước. Cần làm cho họ hiểu được vai trò lãnh đạo của Đảng và họ có ý thức góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Theo tôi, tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản, các tổ chức tập hợp thanh niên cần tuyên truyền để thanh niên hiểu rằng được đứng trong hàng ngũ của Đảng là niềm vinh dự, được sống và đấu tranh vì lý tưởng cách mạng, vì độc lập cho đất nước, tự do hạnh phúc cho nhân dân là hạnh phúc lớn nhất của mỗi người.

Đối với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, đừng để các bạn đoàn viên thanh niên đứng ngoài cuộc xem Đảng làm, mà tổ chức Đảng, Đoàn phải xây dựng cho mỗi bạn trẻ ý thức được trách nhiệm của mình trước Đảng, chủ động góp phần tham gia xây dựng Đảng.

 

 V.H.QUỲNH - N.TRIỀU thực hiện   ( Nguồn: tuỏi trẻ onlin )



Các tin khác
  • NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
  • BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
  • Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
  • Chiến tranh tôn giáo tại Nhật Bản một bài học cho Việt Nam
  • Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
  • Ghi lại những kỷ niệm khó quên về phong trào Phật giáo đấu tranh năm 1963
  • Trái tim Xá lợi Bồ tát Quảng Đức bây giờ ở đâu?
  • Đơn xin tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức
  • Thực nghĩa sự hy sinh của Bồ-tát Thích Quảng Đức
  • Chùm ảnh: HT Thích Quảng Đức tự thiêu do PV Malcome Browne ghi lại
  • Nhà nước trước sau như một đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
  • Người đã sống một đời như thế
  • Hai sự kiện người
  • Năm mới, những tín hiệu mới
  • Ninh Bình: Lễ đặt đá xây dựng Tổ đình Kim Liên
  • Hơn 120 Cán bộ, công nhân viên AVG Group quy y Tam bảo
  • Thủ tướng tiếp đoàn đại biểu lãnh đạo TW GHPGVN
  • CẦN XUYÊN TÂM KHẮC CỐT LỜI VÀNG CỦA ĐỨC NGÀI ĐỆ NHẤT PHÁP CHỦ GHPGVN
  • Tổ đình Vĩnh Nghiêm kính mừng HT. Thích Đức Nghiệp được suy tôn ngôi phó Pháp chủ GHPGVN
  •   1  2       
    Video
       
        HY:diễu hành xe hoa Kính
        mừng  Đại Lễ   Phật Đản





    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Những thai nhi vô tội
    Tin nổi bật
    LỄ QUY Y TAM BẢO TẠI CHÙA PHÚC QUANG .
    NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
    XEM NGÀYvà LỄ BÁI,XUẤT HÀNH XUÂN BÍNH THÂN...
    NHÌN NHẬN , NHẬN ĐỊNH, DƯ ĐOÁN
    “CHÂN THỰC BẤT HƯ”
    BÁO DÂN TRÍ XÚC PHẠM TÔN GIÁO ( ĐẠO PHẬT - NGÔI CHÙA )
    BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
    Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
    Nghiêm trì giới luật
    LỜI TỰ SỰ THÀNH TÂM NHẤT .
    Ngày trở về an cư bên Sư Phụ...
    Hưng Yên: Lễ khai giảng khóa tu mùa hè lần thứ 05
    Đức Pháp chủ quang lâm lễ khai pháp hạ trường PG tỉnh Hưng Yên
    Hưng Yên: Lễ khai khóa ACKH và cầu nguyện cho biển Đông
    HÌNH ẢNH và QUANG CẢNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ....
    MỘT SỰ BẤT TÍN THÌ VẠN SỰ KHÔNG TIN ....
    “BIẾT THÌ THƯA THỚT,KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE…”
    Xuân về : lại nghĩ thân cò cũng như thân chim
    NGÔI CHÙA ĐI TRƯỚC VỀ SAU ( Khánh thành ngôi Tổ đường )`
    Người mẹ Liệt sĩ bị dồn vào chân tường...
    HOẰNG PHÁP HAY ỨNG PHÓ ĐẠO TRÀNG ĐỀU NÊN GIỮ GÌN CÁI GỐC
    Ý nghĩa ngày Rằm tháng Bảy, mùa báo hiếu của người con Phật
    SỰ GIA HỘ CỦA ĐỨC PHẬT
    Chuyện cảm động về 'thiên thần' bé nhỏ nơi cửa Phật
    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
    Vì sao cần niệm Phật?
    Hưng Yên: TT. Thích Chân Quang thuyết giảng tại chùa Bụt Mọc
    Hưng Yên: TT Thích Chân Quang chia sẻ Phật Pháp tại huyện Tiên Lữ
    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Phân phát trái phép ấn phẩm văn hóa để truyền giáo
    Từ giờ đầu “khai bút” năm Nhâm Thìn đến ngày thứ 363 tiếp nối…
    Bình giải tập tục cúng sao hạn
    Hưng Yên : Hơn 100 người quy y Tam bảo ở chùa Mỹ Xá
    Vì sao lại niệm Nam mô A-di-đà Phật?
    Phật tử Park Geun hye đắc cử Tổng thống Hàn Quốc
    Đại Lễ Hoàn Nguyện tại Lâm Tỳ Ni thật mãn nguyện
    Một nghi thức PG được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể
    Ý nghĩa chữ Vạn ở trước ngực Tượng Phật ...
    Sự quan trọng của nếp sống Lục hoà đối với người học Phật
    Ý nghĩa lục hòa và chuyện quả cam
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Lễ cầu siêu tại Đền thờ bờ Bắc sông Thạch Hãn ....
    NHỚ VỀ LỤC HÒA PHẢI TỰ CHỈNH ĐỐN...
    Phật giáo với việc cai trị đất nước
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    NÓI THẬT "trật lỗ tai"
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Chùa Phúc Quang ( Phúc Quang Tự )
    Những thai nhi vô tội
    * TÂM THƯ THỈNH NGUYỆN
    Thực hư chuyện cậu bé 'đầu thai' ở Vụ Bản
    Ý nghĩa rằm tháng bảy
    Nhà ngoại cảm ĐOÀN VIỆT TIẾN - giải mã thông tin bằng năng lượng cảm xạ
    Cõi âm và khả năng ngoại cảm
    Đừng đánh mất các truyền thống tốt đẹp ngày Tết
    Ban Văn hóa TW làm việc với THPG Hưng Yên
    Quang cáo