Đức Phật ra đời vì an lạc, hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích, an vui cho chư thiên và loài người. The Buddha appeared in the world for the happiness and welfare of many, for the benefits and happiess of gods and men. 为人天之利乐故,佛出现世间

 
Danh mục chính
Hỗ trợ online
Lượt truy cập
  Số người online:51
  Tổng truy cập: 2242117
Liên kết website
 
ALbum

  Chính sách tôn giáo ...
Nghị định 92 của chính phủ về tôn giáo (Chương 4 - 5)
 

Chương 4.

HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO

MỤC 1. ĐĂNG KÝ CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO HÀNG NĂM CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO CƠ SỞ

Điều 24. Đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo hàng năm của tổ chức tôn giáo cơ sở

1. Hàng năm trước ngày 15 tháng 10, người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi bản đăng ký hoạt động tôn giáo sẽ diễn ra vào năm sau tại cơ sở đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã. Nội dung bản đăng ký nêu rõ người tổ chức, dự kiến số lượng người tham dự, nội dung hoạt động, thời gian diễn ra hoạt động.

2. Sau 15 ngày làm việc kể từ ngày gửi bản đăng ký hợp lệ, nếu Ủy ban nhân dân cấp xã không có ý kiến khác thì tổ chức tôn giáo cơ sở được hoạt động theo nội dung đã đăng ký.

Điều 25. Hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đã đăng ký của tổ chức tôn giáo cơ sở

1. Hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đăng ký hàng năm mà không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 18 và 25 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được quy định như sau:

a) Hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ ngoài huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc ngoài tỉnh, tổ chức tôn giáo cơ sở phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận;

b) Hoạt động tôn giáo có sự tham gia của tín đồ trong huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tổ chức tôn giáo cơ sở phải được Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hoạt động tôn giáo chấp thuận.

2. Tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a và b Khoản 1 Điều này, trong đó nêu rõ tên hoạt động tôn giáo, người tổ chức, dự kiến số lượng người tham dự, nội dung hoạt động, thời gian, địa điểm diễn ra hoạt động, các điều kiện bảo đảm.

3. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a và b Khoản 1 Điều này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

MỤC 2. ĐĂNG KÝ NGƯỜI VÀO TU

Điều 26. Việc đăng ký người vào tu

1. Người phụ trách cơ sở tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký người vào tu đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận người vào tu.

2. Hồ sơ gồm:

a) Danh sách người vào tu;

b) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người vào tu có hộ khẩu thường trú;

c) Ý kiến bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ (với người chưa thành niên vào tu).

MỤC 3. HỘI NGHỊ, ĐẠI HỘI CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO

Điều 27. Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo cơ sở

1. Tổ chức tôn giáo cơ sở tổ chức hội nghị thường niên, đại hội có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, đại hội;

b) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo cơ sở.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 28. Hội nghị, đại hội cấp Trung ương hoặc toàn đạo của tổ chức tôn giáo

1. Tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức hội nghị thường niên, đại hội cấp Trung ương hoặc toàn đạo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, đại hội;

b) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo;

c) Dự thảo hiến chương, điều lệ hoặc hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có).

2. Trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 29. Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc các trường hợp quy định tại các Điều 27 và 28 Nghị định này

1. Việc tổ chức hội nghị thường niên, đại hội của tổ chức tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 27 và 28 Nghị định này, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi diễn ra hội nghị, đại hội.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, lý do tổ chức, dự kiến thành phần, số lượng người tham dự, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị, đại hội;

b) Báo cáo hoạt động của tổ chức tôn giáo;

c) Dự thảo hiến chương, điều lệ hoặc hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có).

2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 30. Đăng ký hiến chương, điều lệ sửa đổi

1. Tổ chức tôn giáo khi sửa đổi hiến chương, điều lệ có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký kèm theo hiến chương, điều lệ sửa đổi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 và Khoản 1 Điều 29 Nghị định này. Văn bản đăng ký nêu rõ tên tổ chức tôn giáo, người đại diện, lý do, nội dung sửa đổi hiến chương, điều lệ.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản hiến chương, điều lệ sửa đổi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý đo.

3. Tổ chức tôn giáo được hoạt động theo hiến chương, điều lệ sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

MỤC 4. CÁC CUỘC LỄ, GIẢNG ĐẠO, TRUYỀN ĐẠO CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO, CHỨC SẮC, NHÀ TU HÀNH DIỄN RA NGOÀI CƠ SỞ TÔN GIÁO

Điều 31. Các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo

1. Tổ chức tôn giáo khi tổ chức các cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo có sự tham gia của tín đồ trong phạm vi một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp huyện. Văn bản đề nghị nêu rõ tên cuộc lễ, người chủ trì, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm thực hiện, quy mô, thành phần tham dự cuộc lễ.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

2. Việc tổ chức các cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo có sự tham gia của tín đồ đến từ nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc đến từ nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo.

Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 32. Giảng đạo, truyền đạo của chức sắc, nhà tu hành ngoài cơ sở tôn giáo

1. Chức sắc, nhà tu hành giảng đạo, truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi dự kiến giảng đạo, truyền đạo.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ lý do thực hiện giảng đạo, truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo, nội dung, chương trình, thời gian, địa điểm thực hiện, người tổ chức, thành phần tham dự;

b) Ý kiến bằng văn bản của tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức tôn giáo trực tiếp quản lý chức sắc, nhà tu hành.

2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

MỤC 5. HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO CỦA CHỨC SẮC, NHÀ TU HÀNH TẠI CƠ SỞ TÔN GIÁO ĐƯỢC XẾP HẠNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH

Điều 33. Hoạt động của chức sắc, nhà tu hành tại cơ sở tôn giáo được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

1. Tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đã xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được cử chức sắc, nhà tu hành tham gia Ban quản lý di tích khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập.

2. Chức sắc, nhà tu hành thuộc cơ sở tôn giáo đã xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được hoạt động tôn giáo bình thường như tại cơ sở tôn giáo khác.

3. Nguồn thu từ công đức, tài trợ cho cơ sở và nguồn thu khác thu được từ việc tổ chức lễ hội của cơ sở tôn giáo đã xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh phải được công khai trong Ban quản lý di tích. Nguồn thu này được sử dụng để phục vụ cho việc quản lý, tu bổ di tích, hoạt động tôn giáo và đảm bảo đời sống bình thường của chức sắc, nhà tu hành tại cơ sở đó.

MỤC 6. VIỆC CẢI TẠO, NÂNG CẤP, XÂY DỰNG MỚI CÔNG TRÌNH TÍN NGƯỠNG, CÔNG TRÌNH TÔN GIÁO, CÔNG TRÌNH PHỤ TRỢ THUỘC CƠ SỞ TÍN NGƯỠNG, CƠ SỞ TÔN GIÁO

Điều 34. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ thuộc cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo phải xin cấp giấy phép xây dựng

1. Công trình tín ngưỡng là những công trình như: Đình, đền, am, miếu, từ đường, nhà thờ họ và những công trình tương tự khác.

2. Công trình tôn giáo là những công trình như: Trụ sở của tổ chức tôn giáo, chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất, niệm phật đường, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, tượng đài, bia, tháp và những công trình tương tự của các tổ chức tôn giáo,

3. Công trình phụ trợ là những công trình không sử dụng cho việc thờ tự của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, như: Nhà ở, nhà khách, nhà ăn, nhà bếp, tường rào khuôn viên cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo và các công trình tương tự khác.

4. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình theo quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều này và những công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên quan.

Điều 35. Việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo không phải xin cấp giấy phép xây dựng

Khi sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo không phải là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng mà không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực, an toàn của công trình và khu vực xung quanh thì không phải xin cấp giấp phép xây dựng.

Trước khi sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình, người đại diện cơ sở tín ngưỡng hoặc tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm gửi văn bản thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã sở tại, trong đó nêu rõ lý do, thời gian, các hạng mục công trình, phạm vi và mức độ sửa chữa, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo quy định của pháp luật.

MỤC 7. TỔ CHỨC QUYÊN GÓP CỦA CƠ SỞ TÍN NGƯỠNG, TỔ CHỨC TÔN GIÁO

Điều 36. Tổ chức quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo

1. Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này về việc tổ chức quyên góp, trong đó nêu rõ mục đích, phạm vi, cách thức, thời gian, cơ chế quản lý, sử dụng tài sản được quyên góp.

2. Cơ quan nhận thông báo về việc quyên góp của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo:

a) Trường hợp tổ chức quyên góp trong phạm vi một xã, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức quyên góp;

b) Trường hợp tổ chức quyên góp vượt ra ngoài phạm vi một xã nhưng trong phạm vi một huyện, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi tổ chức quyên góp;

c) Trường hợp tổ chức quyên góp vượt ra ngoài phạm vi một huyện, thông báo với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức quyên góp.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy đinh tại Điểm a Khoản 2 Điều này; 05 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này; 07 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Khoản 2 Điều này có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và giám sát việc thực hiện theo nội dung thông báo; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

4. Cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo thực hiện việc quyên góp phải bảo đảm tính công khai, minh bạch đối với các khoản quyên góp, kể cả việc phân bổ; không được lợi dụng danh nghĩa cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo để quyên góp phục vụ lợi ích cá nhân hoặc những mục đích trái pháp luật.

5. Việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng các khoản quyên góp có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật.

MỤC 8. QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO, TÍN ĐỒ, NHÀ TU HÀNH, CHỨC SẮC

Điều 37. Việc mời tổ chức, cá nhân là người nước ngoài vào Việt Nam

1. Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo khi mời tổ chức, cá nhân là người nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động quốc tế liên quan đến tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ tên tổ chức, cá nhân tôn giáo mời, mục đích, nội dung các hoạt động hợp tác, danh sách khách mời, dự kiến chương trình, thời gian và địa điểm tổ chức;

b) Bản giới thiệu tóm tắt các hoạt động chủ yếu của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

2. Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 38. Việc tham gia hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài

1. Tổ chức, cá nhân tôn giáo khi tham gia hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài có trách nhiệm gửi hồ sơ đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị, trong đó nêu rõ mục đích, chương trình, thời gian, địa điểm hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài mà tổ chức, cá nhân tôn giáo ở Việt Nam được mời tham gia;

b) Giấy mời tham gia hoạt động tôn giáo hoặc văn bản chấp thuận đào tạo của tổ chức, cá nhân tôn giáo ở nước ngoài;

c) Văn bản chấp thuận của tổ chức tôn giáo quản lý trực tiếp.

2. Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

3. Chức sắc, nhà tu hành, tín đồ sau khi hoàn thành khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài, nếu được tổ chức tôn giáo ở nước ngoài phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, khi về Việt Nam hoạt động tôn giáo, tổ chức tôn giáo quản lý trực tiếp có trách nhiệm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 19 Nghị định này.

Điều 39. Việc giảng đạo của chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài tại Việt Nam

1. Tổ chức tôn giáo mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo tại cơ sở tôn giáo ở Việt Nam có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương, trong đó nêu rõ họ tên chức sắc, nhà tu hành, quốc tịch, tên tổ chức tôn giáo nước ngoài, chương trình, nội dung, thời gian, địa điểm thực hiện, người tổ chức, thành phần tham dự.

2. Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

Điều 40. Sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam

1. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tạo điều kiện sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo như tín đồ tôn giáo Việt Nam.

2. Người nước ngoài có nhu cầu tập trung để sinh hoạt tôn giáo tại cơ sở tôn giáo hợp pháp ở Việt Nam có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Hồ sơ gồm:

a) Văn bản đề nghị sinh hoạt tôn giáo, trong đó nêu rõ họ tên, quốc tịch, tôn giáo của người đại diện; lý do, thời gian, số lượng người tham gia, cơ sở tôn giáo dự kiến đăng ký sinh hoạt;

b) Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh việc cư trú hợp pháp tại Việt Nam của người đại diện;

c) Văn bản đồng ý của tổ chức tôn giáo cơ sở hợp pháp nơi nhóm người nước ngoài dự kiến sinh hoạt tôn giáo.

3. Trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do.

4. Người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Nghị định này và các văn bản pháp luật có liên quan.

Điều 41. Việc xuất cảnh, nhập cảnh liên quan đến tôn giáo

Khi thực hiện quy định tại các Điều 37, 38, 39 và Điều 40 Nghị định này, tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc phải tuân thủ quy định của pháp luật về xuất cảnh, nhập cảnh.

Chương 5.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 42. Trách nhiệm của Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan

1. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

2. Trong việc thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định này, những trường hợp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cùng cấp có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định.

3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phối hợp với Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng; môn học lịch sử Việt Nam, pháp luật Việt Nam; xây dựng công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo; đất đai liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 43. Tiếp nhận hồ sơ

1. Tổ chức, cá nhân khi thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định này có trách nhiệm gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện 01 bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có giấy biên nhận, trong đó hẹn ngày trả kết quả. Giấy biên nhận được lập thành 02 bản, 01 bản giao cho tổ chức, cá nhân, 01 bản lưu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn cho tổ chức, cá nhân, bổ sung hồ sơ theo đúng quy định. Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ không tính vào thời hạn trả lời.

Điều 44. Điều khoản chuyển tiếp

1. Tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và công nhận về tổ chức theo quy định tại Nghị định số   22/2005/NĐ-CP                        ngày 01 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì không phải làm thủ tục đăng ký và công nhận lại theo quy định tại Nghị định này.

2. Hội đoàn tôn giáo, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác của tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký hoạt động theo quy định tại Nghị định số  22/2005/NĐ-CP                       ngày 01 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo thì không phải làm thủ tục đăng ký lại theo quy định tại Nghị định này.

Điều 45. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Nghị định này thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP                 ngày 01 tháng 3 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.

Điều 46. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, NC (3b).

TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG

( ĐÃ KÝ )


Nguyễn Tấn Dũng

 

 

Phỏng vấn Tiến sĩ Bùi Thanh Hà - Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ về Nghị định số 92/2012/NĐ-CP
Tiến sĩ Bùi Thanh Hà - Phó Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ

Ngày 8/11/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP qui định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định 92/2012/NĐ-CP) thay thế Nghị định 22/2005/NĐ-CP ngày 1/3/2005 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định 22/2005/NĐ-CP).

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, Nghị định gồm 5 chương, 14 mục, 46 điều, với một số nội dung được sửa đổi, bổ sung, quy định mới so với Nghị định số 22/2005/NĐ-CP.

Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu của cán bộ, công chức, tín đồ, chức sắc các tôn giáo cùng đông đảo bạn đọc gần xa, Trung tâm Thông tin, Ban Tôn giáo Chính phủ có phỏng vấn ông Bùi Thanh Hà, Phó trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ về một số nội dung liên quan đến Nghị định 92/2012/NĐ-CP.
 
1. Xin ông cho biết về sự cần thiết ban hành Nghị định số 92/2012/NĐ-CP và quan điểm trong việc xây dựng Nghị định này.
 
1.1. Về sự cần thiết ban hành Nghị định
 
- Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo được UBTVQH khóa XI thông qua ngày 18/6/2004, ngày 01/3/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Quá trình thực hiện Nghị định số 22/2005/NĐ-CP có một số tồn tại, hạn chế như có nội dung quy định không khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn hoặc đến nay không còn phù hợp; một số nội dung của Pháp lệnh chưa được hướng dẫn hoặc hướng dẫn nhưng chưa cụ thể, gây khó khăn trong quá trình triển khai, thực hiện.
- Thực hiện Nghị quyết số 54/NQ-CP ngày 10/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ, trong đó có 25 nhóm thủ tục về lĩnh vực tôn giáo liên quan đến toàn bộ nội dung trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP cần sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ về thành phần hồ sơ, số lượng hồ sơ và thời hạn trả lời.
 
Vì vậy, Nghị định số 92/2012/NĐ-CP được ban hành nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP và đảm bảo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 54/2010/NQ-CP về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lí của Bộ Nội vụ, bảo đảm cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện thuận lợi trong khuôn khổ pháp luật.
 
1.2. Về quan điểm trong việc xây dựng Nghị định
 
Nghị định số 92/2012/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở thống nhất một số quan điểm mang tính nguyên tắc sau:
 
- Nghị định tiếp tục thể chế, cụ thể hoá Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan có giá trị pháp lý cao hơn. Nội dung Nghị định không được trái với tinh thần của các văn bản này, đặc biệt là Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
 
- Các quy định trong thủ tục hành chính của Nghị định phải đáp ứng yêu cầu về đơn giản hóa thủ tục hành chính theo tinh thần Nghị quyết số 54/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Nội vụ; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 về Kiểm soát thủ tục hành chính.
 
- Ngôn ngữ sử dụng trong Nghị định phải rõ ràng, không đa nghĩa; quá trình xây dựng Nghị định phải tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về ban hành văn quản quy phạm pháp luật, đảm bảo những quy định khi được ban hành có tính khả thi, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
 
2. Những điểm mới của Nghị định số 92/2012/NĐ-CP so với Nghị định 22/2005/NĐ-CP.
 
2.1. Về quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng (Điều 3).
 
Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chỉ quy định về lễ hội tín ngưỡng, Nghị định thay thế có bổ sung quy định cụ thể về hoạt động tại cơ sở tín ngưỡng, gồm việc cử người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng; việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng hàng năm tại cơ sở; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã; trách nhiệm của người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, người tham gia hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng. Quy định này nhằm chấn chỉnh sinh hoạt tín ngưỡng trong cộng đồng dân cư, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đồng thời định hướng việc sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo nhằm mục đích tôn vinh, tưởng niệm những người có công với dân tộc, với cộng đồng, những biểu tượng văn hóa của dân tộc. Ngăn chặn việc lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân.
 
2.2. Về điều kiện để đăng ký sinh hoạt tôn giáo; đăng ký hoạt động, công nhận tổ chức tôn giáo (Điều 5, Điều 6, Điều 8).
 
Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chỉ quy định thủ tục để tổ chức đăng ký hoạt động tôn giáo, Nghị định này bổ sung quy định về đăng ký sinh hoạt tôn giáo; điều kiện để đăng ký sinh hoạt tôn giáo; điều kiện để một tổ chức được đăng ký hoạt động tôn giáo; thời hạn và điều kiện để được công nhận là tổ chức tôn giáo. Đây là quy định mới nhằm giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định được các loại hình tổ chức đủ điều kiện đăng ký hoạt động tôn giáo theo tổ chức và các nhóm người có niềm tin riêng chỉ sinh hoạt như hình thức tín ngưỡng của cộng đồng, không có tổ chức giáo hội. Quy định này nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm các sinh hoạt tôn giáo bình thường được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật.
 
2.3. Về quản lý đối với trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo (Điều 15, Điều 16).
 
Nghị định số 22/22005/NĐ-CP chỉ quy định việc thành lập, giải thể trường, mở lớp bồi dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo; chưa có quy định về người nước ngoài muốn theo học tại trường dẫn đến khó khăn cho nhà trường và học viên là người nước ngoài. Nghị định này bổ sung quy định về quản lý đối với trường trong việc tuyển sinh người Việt Nam và người nước ngoài; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 
2.4. Về đăng ký hiến chương, điều lệ sửa đổi của tổ chức tôn giáo (Điều 30).
 
Sau quy định về việc tổ chức đại hội của các tổ chức tôn giáo như Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, Nghị định này có quy định về đăng ký hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
 
2.5. Về hoạt động tôn giáo tại cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh (Điều 33).
 
Đây là quy định mới hoàn toàn, nhằm bảo đảm hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ và các hoạt động có liên quan tại các cơ sở được xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, hạn chế các tranh chấp trong quản lý cơ sở và tổ chức hoạt động giữa người phụ trách cơ sở tôn giáo với ban quản lý di tích.
 
2.6. Về cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 34, Điều 35).
 
Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chỉ quy định chung các công trình tôn giáo, Nghị định nàyquy định phân loại các công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ và yêu cầu về cấp phép xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật về xây dựng. Quy định này tránh sự chồng chéo của các văn bản pháp luật, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu về xây dựng, sửa chữa công trình.
 
2.7. Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 40).
 
Nghị định số 22/2005/NĐ-CP chưa quy định về nội dung này, Nghị định này quy định về việc người nước ngoài được sinh hoạt tôn giáo chung với người Việt Nam hoặc thành nhóm riêng tại cơ sở tôn giáo hợp pháp ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế.
 
2.8. Về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước (Điều 42, Điều 43).
 
Nghị định bổ sung các quy định mới cho các cơ quan nhà nước có liên quan trong việc quản lý đối với hoạt động tôn giáo; về tiếp nhận và xử lý hồ sơ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động tôn giáo. Tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thực hiện chính sách tôn giáo.
 
2.9. Về thủ tục hành chính.
 
Thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính ban hành kèm theo Nghị quyết số 54/NQ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2010, nhằm khắc phục những hạn chế về thủ tục hành chính trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP như thời hạn giải quyết quá dài, không quy định số lượng hồ sơ, cách thức gửi và tiếp nhận hồ sơ, Nghị định này quy định rõ số lượng hồ sơ gửi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thời hạn trả lời các tổ chức, cá nhân tôn giáo là ngày làm việc và đều được rút ngắn. Nghị định cũng quy định rõ việc tiếp nhận hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc tiếp nhận hồ sơ.
 
3. Sau khi Nghị định số 92/2012/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, các nội dung đang được thực hiện theo Nghị định số 22/2005/NĐ-CP được giải quyết như thế nào.
 
Theo quy định của Nghị định số 92/2012/NĐ-CP thì tổ chức tôn giáo, dòng tu, hội đoàn được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký hoạt động hoặc công nhận thì không phải làm thủ tục đăng ký hoặc công nhận lại.
Xin trân trọng cảm ơn Ông./.
 
Vũ Hà Khoa


Nguồn : Ban tôn giáo chính phủ

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/1/0/
 
 
 

 


Các tin khác
  • Pháp lệnh số 21/2004/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội : Về tín ngưỡng tôn giáo
  • Nghị định về tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ 1-1-2013
  • Nghị định 92 của chính phủ về tôn giáo (Chương 1 - 3)
  •       
    Video
       
        HY:diễu hành xe hoa Kính
        mừng  Đại Lễ   Phật Đản





    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Những thai nhi vô tội
    Tin nổi bật
    LỄ QUY Y TAM BẢO TẠI CHÙA PHÚC QUANG .
    NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
    XEM NGÀYvà LỄ BÁI,XUẤT HÀNH XUÂN BÍNH THÂN...
    NHÌN NHẬN , NHẬN ĐỊNH, DƯ ĐOÁN
    “CHÂN THỰC BẤT HƯ”
    BÁO DÂN TRÍ XÚC PHẠM TÔN GIÁO ( ĐẠO PHẬT - NGÔI CHÙA )
    BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
    Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
    Nghiêm trì giới luật
    LỜI TỰ SỰ THÀNH TÂM NHẤT .
    Ngày trở về an cư bên Sư Phụ...
    Hưng Yên: Lễ khai giảng khóa tu mùa hè lần thứ 05
    Đức Pháp chủ quang lâm lễ khai pháp hạ trường PG tỉnh Hưng Yên
    Hưng Yên: Lễ khai khóa ACKH và cầu nguyện cho biển Đông
    HÌNH ẢNH và QUANG CẢNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ....
    MỘT SỰ BẤT TÍN THÌ VẠN SỰ KHÔNG TIN ....
    “BIẾT THÌ THƯA THỚT,KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE…”
    Xuân về : lại nghĩ thân cò cũng như thân chim
    NGÔI CHÙA ĐI TRƯỚC VỀ SAU ( Khánh thành ngôi Tổ đường )`
    Người mẹ Liệt sĩ bị dồn vào chân tường...
    HOẰNG PHÁP HAY ỨNG PHÓ ĐẠO TRÀNG ĐỀU NÊN GIỮ GÌN CÁI GỐC
    Ý nghĩa ngày Rằm tháng Bảy, mùa báo hiếu của người con Phật
    SỰ GIA HỘ CỦA ĐỨC PHẬT
    Chuyện cảm động về 'thiên thần' bé nhỏ nơi cửa Phật
    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
    Vì sao cần niệm Phật?
    Hưng Yên: TT. Thích Chân Quang thuyết giảng tại chùa Bụt Mọc
    Hưng Yên: TT Thích Chân Quang chia sẻ Phật Pháp tại huyện Tiên Lữ
    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Phân phát trái phép ấn phẩm văn hóa để truyền giáo
    Từ giờ đầu “khai bút” năm Nhâm Thìn đến ngày thứ 363 tiếp nối…
    Bình giải tập tục cúng sao hạn
    Hưng Yên : Hơn 100 người quy y Tam bảo ở chùa Mỹ Xá
    Vì sao lại niệm Nam mô A-di-đà Phật?
    Phật tử Park Geun hye đắc cử Tổng thống Hàn Quốc
    Đại Lễ Hoàn Nguyện tại Lâm Tỳ Ni thật mãn nguyện
    Một nghi thức PG được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể
    Ý nghĩa chữ Vạn ở trước ngực Tượng Phật ...
    Sự quan trọng của nếp sống Lục hoà đối với người học Phật
    Ý nghĩa lục hòa và chuyện quả cam
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Lễ cầu siêu tại Đền thờ bờ Bắc sông Thạch Hãn ....
    NHỚ VỀ LỤC HÒA PHẢI TỰ CHỈNH ĐỐN...
    Phật giáo với việc cai trị đất nước
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    NÓI THẬT "trật lỗ tai"
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Chùa Phúc Quang ( Phúc Quang Tự )
    Những thai nhi vô tội
    * TÂM THƯ THỈNH NGUYỆN
    Thực hư chuyện cậu bé 'đầu thai' ở Vụ Bản
    Ý nghĩa rằm tháng bảy
    Nhà ngoại cảm ĐOÀN VIỆT TIẾN - giải mã thông tin bằng năng lượng cảm xạ
    Cõi âm và khả năng ngoại cảm
    Đừng đánh mất các truyền thống tốt đẹp ngày Tết
    Ban Văn hóa TW làm việc với THPG Hưng Yên
    Quang cáo