Đức Phật ra đời vì an lạc, hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích, an vui cho chư thiên và loài người. The Buddha appeared in the world for the happiness and welfare of many, for the benefits and happiess of gods and men. 为人天之利乐故,佛出现世间

 
Danh mục chính
Hỗ trợ online
Lượt truy cập
  Số người online:7
  Tổng truy cập: 2286253
Liên kết website
 
ALbum

  Phật Đản
DU LỊCH ONLINE : TỨ THÁNH ĐỊA PHẬT GIÁO

                   





                    


HT Thích Huyền Diệu trụ trì ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự tại :
Nơi Bồ Tát Tất Đạt Đa - Thích Ca Mâu Ni - Đản sinh


 
 
                    



 
                       


Từ giã thành Ca Tỳ La Vệ, Ngài Huyền Trang đi về phía đông, qua 500 dặm rừng rậm, đến xứ Câu-thi-na-yết-la (Kucinagara, bây giờ là Kasi), là nơi đức Phật đã nhập diệt. Ngài Huyền Trang đến khu rừng Sa La (Cala) nơi đức Phật đã bảo ông A Nan treo võng cho Ngài nằm nghỉ. Và đó cũng chính là nơi yên nghỉ cuối cùng của Ngài.

Rừng cây, hoa lá của vùng này đã có diễm phúc nghe những Pháp âm vô cùng quý giá của Ngài trước khi Ngài nhập diệt, như ” … Này, các người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi! Hãy lấy Pháp của ta làm đuốc, hãy theo Pháp của ta mà tự giải thoát. Ðừng tìm sự giải thoát ở một kẻ khác! Ðừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác” … Hoặc: “Này các Tỳ kheo! Các người đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có Ðạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý của Ðạo ta là bắt di bất dịch!”. “Hãy tinh tấn lên để giải thoát!”

Ngài Huyền Trang đi viếng khắp cả vùng này. Ðây là nền nhà trong ấy ông Thuần Ðà đã dâng cúng bữa cơm cuối cùng của đức Phật. Ðây là nơi nhập diệt. Ðây là nơi làm lễ trà tỳ (hỏa táng). Ðây là nơi các vị quốc vương Ấn Ðộ chia Xá lợi của Phật …

Chiêm bái ở đây xong, Ngài Huyền Trang vượt nhiều rừng núi để đi đến thành Ba La Nại (Bénarès), viếng vườn Lộc Uyển.

Ngài Huyền Trang đi dần về phía Trung Ấn Ðộ. Sau khi đi chừng 1.000 dặm và qua mấy tiểu quốc ở Bắc Ấn Ðộ, một hôm, đi ngang một khu rừng rậm rạp, Ngài và những người bạn đồng hành gặp phải một bọn cướp chừng 50 tên. Sau khi lấy hết cả đồ dùng, áo quần, vàng bạc, chúng nó còn nắm giáo mác đuổi theo Ngài và mấy người lữ hành. Chạy được một đoạn đường, mấy người lữ hành nhận thấy bên bờ một cái hồ khô nước, cây cỏ rậm rạp, có một cái hang rộng, có thể chứa được nhiều người. Họ ra dấu cho Ngài và mấy người cùng nhau chạy xuống đấy ẩn trốn. Bọn cướp đuổi theo sau, đến đây thấy mất tăm dạng các người lữ hành, chúng mới thôi, không đuổi nữa. Sau khi thoát nạn, họ chạy đến một làng gần đấy và kể lại tai nạn vừa xảy ra. Một người Bà-la-môn, có lẽ là xã trưởng, đánh trống hội họp dân làng cùng nhau đuổi theo tiêu trừ bọn cướp. Nhưng bọn này đã cao bay xa chạy vào rừng sâu. Các lữ hành mất hết của cải rất đau buồn, chỉ có Ngài là giữ được vẻ mặt tự nhiên tươi sáng, vì Ngài nghĩ rằng tánh mạng là điều quý nhất chưa mất, thì cái gì rồi cũng có thể tạo lại được.

Mà thật, khi đến một thành phố gần đấy, họ gặp được một vị Bà-la-môn già, có cảm tình với đạo Phật, triệu tập dân chúng và hô hào họ quyên góp vàng bạc, áo quần, vật dụng trao tặng lại cho những người đã bị cướp. Ðiều may mắn nhất cho Ngài là vị Bà-la-môn già ấy lại là đệ tử thông thái của một đại sư đã có công lớn trong sự kiện toàn môn Nhân Minh học, là môn luận lý học của Phật giáo. Ngài Huyền Trang bất ngờ mà gặp được vị đệ tử giỏi về môn học này rất vui mừng, và xin ở lại thụ giáo với vị này trong một tháng trời. Ngài Huyền Trang nhờ môn học này, mà đã thông hiểu một cách tường tận hệ thống triết lý Ðại thừa và nhất là Duy Thức học Phật giáo.

Ngài đi dần về phía đông, và qua mỗi đoạn đường, Ngài lại gặp thêm nhiều minh sư, ích hữu, thu hoạch được rất nhiều kinh điển Ðại thừa quý báu. Ngài ở chỗ này một năm, chỗ kia năm ba tháng để khảo sát, biên chép, hay thỉnh giáo với những vị học rộng biết nhiều.

Rồi Ngài đi dần về phía đông nam, đến thành phố Ma-siêu-la (Mathura) trong lưu vực sông Jumna là thành phố còn giữ rất nhiều di tích của các vị đệ tử tiếng tăm của đức Thích Ca, như Ngài Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Ưu Bà Ly, A Nan Ðà, La Hầu La …

Sau khi đến chiêm bái các nơi này. Ngài lại đi tiếp sang phía đông, đến thượng lưu sông Hằng. Ðối với tín đồ Ấn Ðộ giáo, sông Hằng là một con sông linh thiêng, bắt nguồn từ trên cõi trời mà chảy xuống đất. Sắc nước luôn luôn thay đổi màu, sóng rất lớn. Nước ngọt và lòng sông toàn cát trắng rất mịn. Theo kinh điển Ấn Ðộ giáo, người ta gọi sông này là sông Hạnh phúc, ai tắm trong nước của nó thì được rửa sạch tội lỗi, ai uống nước của nó, hay chỉ súc miệng thôi, cũng đủ thoát nhiều tai nạn; ai trầm

 

mình chết ở đấy sẽ tái sanh lên cõi trời. Vì thế dân chúng theo Ấn Ðộ giáo đêm ngày tụ tập lễ bái hai bên bờ sông. Và một số người tìm cái chết trong dòng nước thiêng ấy để hy vọng lên cõi trời. Rải rác từng khoảng gần hai bên bờ sông, Ngài thấy có những chiếc sào cắm xuống nước, phía trên đầu có những cái móc hay cái nạn để cho người tín đồ treo mình lên đấy. Từ sáng sớm, khi mặt trời bắt đầu lên, Ngài Huyền Trang đã thấy một vài tín đồ ra sông, tự treo mình dọc theo cái sào ấy với một tay và một chân móc vào cái nạn, còn tay và chân kia thì dang thẳng ra, đôi mắt họ nhìn mặt trời và theo nó từ phía đông cho đến phía tây, từ khi nó mới mọc cho đến khi nó lặn xuống chân trời mới trở về nhà, để sáng hôm sau lại tiếp tục cái công việc ấy. Và cứ như thế, họ làm hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác, hết hàng chục năm này đến hàng chục năm khác, với mục đích là giải cho tâm linh thoát kiếp luân hồi!

Dọc theo sông Hằng, Ngài Huyền Trang đi đến thành Khúc Nữ (Kanauj) là kinh đô của nước Yết-nhược-cúc-đồ (Kayakubja). Nước này thuộc Trung Ấn Ðộ là miền rất có nhiều thánh tích đức Phật Thích Ca. Thời cổ gọi là “Ðất Giữa” vì nó nằm ở giữa Ấn Ðộ. Khi Ngài Huyền Trang đến, thì Yết-nhược-cúc-đồ là một nước đang thời thịnh trị, dân cư giàu có, vui vẻ làm ăn. Vị vua đang trị vì nước ấy là Giới Nhật (Harsha) một anh quân, rất sùng mộ đạo Phật có thể so sánh được với A Dục vương thời trước. Kinh thành Khúc Nữ nằm trên bờ tây sông Hằng có đến 100 ngôi chùa, tăng lữ có trên vạn người. Khi Ngài Huyền Trang đến đây, vua Giới Nhật không có ở kinh đô, nên không được vua tiếp đón như những nước mà Ngài đã đi qua. Ngài ở lại đây ba tháng, trọ lại chùa Bạt-đạt-di-kha-la (Bhadravihârâ) để học hỏi Tam tạng kinh điển. Sau ba tháng ở thành Khúc Nữ, Ngài lại vượt sông Hằng đi về phía đông, đến một thành có nhiều di tích rất thân thiết đối với Ngài, là thành A Du Ðà (Ayodhya, tỉnh Oude). Thành này còn rực rỡ oai danh của hai vị Bồ-tát có công lớn với Ðại thừa Phật giáo và là những vị đã thành lập môn Duy Thức học, đó là hai anh em Ngài Vô Trước (Asanga) và Thế Thân Bồ-tát (Vasubandhu). Ngài Huyền Trang đến khu rừng Xoài, cách 5, 6 dặm về phía tây nam A Du Ðà, là nơi có tịnh xá mà hai thế kỷ trước, hai vị bồ-tát này đã tu niệm và giảng dạy giáo phái của hai Ngài.

Câu chuyện của hai vị Bồ tát này cũng đáng để cho chúng ta suy gẫm trong vấn đề đi tìm sự thật:

Hai anh em Ngài Vô Trước và Thế Thân, gốc ở thượng lưu sông Hằng, đều là những vị thông minh xuất chúng. Nhưng trong lúc Ngài Vô Trước là anh, tu theo phái Ðại thừa thì Ngài Thế Thân là em lại theo Tiểu thừa. Hai Ngài đều có trước tác những bộ luận để xướng minh giáo lý của phái mình, và tất nhiên không thể không có những sự xung đột về lý thuyết.

Một hôm, Ngài Vô Trước mời em đến tịnh xá của mình tại rừng Xoài chơi. Ðêm đến, Ngài Vô Trước dẫn Ngài Thế Thân ra một cái gác dựng bên sông để em nằm hóng mát, còn mình thì trở vào. Ðêm ấy là một đêm thu, có trăng rất đẹp. Trăng và nước hòa hợp trong một bầu trời thu, mênh mông, huyền ảo. Bỗng một giọng tụng niệm trong trẻo thanh thoát ngân lên, ngân lên, bay trong gió, hòa hợp trong không trung. Ðó là một bài luận về Ðại thừa. Qua ý nghĩa bài luận, thế giới vật chất như tan biến, mung lung, mộng ảo như ánh trăng, như hơi nước đang bàn bạc trên sông. Trước mắt Ngài, vật chất chỉ là thế, nghĩa là hư ảo, là duy tâm, là duy thức.

Ngài Thế Thân xúc động đến tận đáy lòng, và cảm thông được cái cao thâm huyền diệu của giáo lý Ðại thừa, Ngài vừa xấu hổ, vừa hối hận, đi vào nhà, xin cắt lưỡi trước mặt anh để chuộc cái tội đã phỉ báng Ðại thừa.

Ngài Vô Trước can em:

– Sao lại cắt lưỡi? Em đã dùng cái lưỡi ấy để công kích Ðại thừa thì nay cũng nên dùng cái lưỡi ấy để xiểng dương Ðại thừa, mới phải chứ!

Ngài Thế Thân nghe theo lời anh dạy. Trước kia Ngài đã viết 500 bộ luận về Tiểu thừa để kích bác Ðại thừa, thì từ đấy, Ngài lại viết 500 bộ luận về Ðại thừa để thuyết minh giáo lý Ðại thừa. Do đó, người đời tôn xưng Ngài là “Thiên bộ Luận sư”, vị luận sư tạo ngàn bộ luận.

Ngài Huyền Trang khi đến thăm tịnh xá của hai vị Bồ tát này, chắc không thể không xúc động mãnh liệt, vì giáo lý Duy thức mà hai vị này đã phát huy ra trước Ngài hai thế kỷ, chính là giáo lý mà sau này Ngài đã dùng làm cơ sở cho bộ luận Thành Duy Thức đồ sộ của Ngài, và là căn bản của Pháp Tướng tông.

Từ giã tịnh xá của hai vị Bồ-tát này, Ngài đi thuyền xuôi theo sông Hằng về phía đông để tiếp tục viếng các Phật tích. Trong thuyền có lối 20 hành khách. Thuyền xuôi theo dòng sông, độ vài chục dặm thì xảy ra một tai nạn lớn, có thể nói là lớn nhất trong cuộc hành trình của Ngài từ trước đến nay, và có thể làm Ngài bỏ xác nơi đây.

Thuyền đi vào một khúc sông, hai bên bờ có nhiều cây cối rậm rạp của rừng cây “A Dục”. Dưới những tàn cây rậm rạp bổ ra sông, có mười chiếc ghe của bọn cướp đang ẩn núp đợi mồi. Khi thấy thuyền Ngài gần đến, bọn cướp hè nhau bơi thuyền ra chặn đường. Nhiều hành khách sợ quá nhảy ùm xuống sông và mất xác, những người còn lại bị đưa vào bờ và bị bọn cướp lột hết quần áo, của cải. Bọn cướp này thờ “Durga”, một nữ hung thần thường bắt các đệ tử cuồng tín phải làm lễ hy sinh người sống cho mình. Thường năm, đến mùa thu, họ tìm một nạn nhân, phần nhiều là đàn ông có hình dáng cân đối, mặt mũi khôi ngô để lấy huyết và thịt dâng cúng cho nữ thần. Khi bọn cướp này nhận thấy Ngài Huyền Trang có khuôn mặt tuấn tú, hình dáng oai nghi, chúng nhìn nhau mừng rỡ. Chúng nói với nhau:

–Chúng ta đã trễ quá thời hạn làm lễ tế thần, vì chưa tìm được một kẻ hy sinh xứng đáng với nữ thần. Nhưng bây giờ chúng ta gặp được nhà sư mặt mũi khôi ngô, thân hình đẹp đẽ này, chúng ta hãy làm lễ tế ngay, để nữ thần ban phước.

Ngài nghe nói, bình tỉnh trả lời:

–Nếu thân xác của bần tăng này đáp đúng ý nguyện của các ngươi, để dâng cúng cho nữ thần, bần tăng thật tình không dám tiếc. Nhưng bần tăng từ phương xa lặn lội đến đây để chiêm bái các Phật tích, cung thỉnh các kinh điển và học hỏi giáo lý của đức Thích Ca. Sở nguyện thiết tha ấy chưa thành, mà nay các ngươi đành tâm giết bần tăng, thì bần tăng e rằng các ngươi đã không được phúc mà trái lại còn mang thêm nhiều tai họa.

Những người hành khách quỳ xuống xin bọn cướp tha chết cho Ngài. Có người lại xin thay mạng cho Ngài. Nhưng bọn cướp đều từ chối. Tên đầu đảng truyền lệnh cho bộ hạ vào rừng lấy nước trong và dựng một cái bàn thờ với đất bùn lấy ở dưới sông lên. Xong xuôi nó truyền hai tên thân tín rút giáo, lôi Ngài lên bàn thờ để làm lễ hy sinh ngay. Trong lúc đó sắc mặt Ngài vẫn không đổi, bình thản như thường. Bọn cướp lấy làm ngạc nhiên và không khỏi xúc động. Riêng Ngài, thì Ngài thấy giờ phút cuối cùng sắp đến, nên yêu cầu bọn cướp trì hoãn cho Ngài một lúc để Ngài cầu nguyện và đừng lôi kéo Ngài như thế. Ngài bảo:

–Các ngươi hãy để cho bần tăng được nhập Niết-bàn một cách thanh tịnh và hoan hỷ.

Nói xong, Ngài ngồi kiết già, xưng tán đức Di Lặc và chư Bồ tát trong mười phương, mong cầu được nhập vào hàng Thánh chúng để được nghe pháp và giác ngộ hoàn toàn. Rồi Ngài lại nguyện sau khi giác ngộ sẽ trở về cõi Ta Bà này khai thị cho bọn cướp, đưa chúng về con đường chính và làm các việc công đức để chuộc những lỗi lầm. Cuối cùng, Ngài nguyện sẽ hóa độ toàn thể chúng sanh, và đưa họ vào cảnh giới an lạc. Nguyện xong, Ngài nhập định và chú toàn tâm lực vào đức Bồ-tát Di Lặc.

Bỗng Ngài nhận thấy tâm hồn lâng lâng siêu thoát, như bay bổng đến núi Tu Di, và sau khi lên đến tầng trời thứ ba, Ngài thấy đức Di Lặc đang ngồi trên tòa sen rực rỡ và quanh Ngài, chư thiên đang ngồi nghe pháp. Trong khi tâm hồn Ngài đang phiêu diêu trong cảnh giới thanh tịnh ấy, Ngài không còn nhận thấy rằng mình đang ngồi trên bàn thờ tế nữ thần, bên cạnh bọn cướp khát máu đang nóng lòng chờ đợi cắt da, xẻ thịt mình, và dưới chân Ngài, chung quanh Ngài, những người đồng hội, đồng thuyền với mình đang than khóc tiếc thương Ngài.

Bỗng một trận cuồng phong nổi lên, làm cây cối gẫy ngã, cát bụi tung đầy trời, sóng cuồn cuộn gầm thét và lật úp ghe thuyền trên sông. Bọn cướp hoảng sợ, hỏi những kẻ bộ hành cùng đi theo Ngài:

–Nhà sư này ở đâu đến và tên ông ta là gì?

Một người trong đám hành khách trả lời:

–Ðó là một cao tăng từ Trung Hoa đi sang đây thỉnh kinh. Nếu các người giết vị sư ấy thì tai họa lớn lao sẽ đến với các người. Các người thấy chưa, gió bão đang nổi dậy đó chính là triệu chứng sự giận dữ của chư thiên trước hành động bạo tàn của các người. Các người hãy mau hối cải mới được.

Bọn cướp sợ hãi, sụp quỳ xuống bên chân Ngài, xin tha tội, nhưng Ngài vẫn điềm nhiên tĩnh tọa, không nhận thấy sự thay đổi đột ngột, kỳ lạ xảy đến chung quanh Ngài. Một tên cướp xích lại gần, nắm chéo áo Ngài van xin tha tội, làm Ngài sực tỉnh.

Khi được biết bọn cướp đã hoảng sợ mà đổi ý, Ngài nhận tin ấy một cách bình tĩnh, không đổi sắc mặt. Ngài khuyên bọn cướp hãy cải tà quy chánh. Bọn cướp ngoan ngoãn xin tuân theo. Trận cuồng phong dịu dần rồi tắt hẳn.

 

 


Nguồn :http://datphat.wordpress.com/2007/09/07/cau-thi-na-n%C6%A1i-d%E1%BB%A9c-ph%E1%BA%ADt-nh%E1%BA%ADp-di%E1%BB%87t/


http://datphat.wordpress.com/2007/09/07/hanh-trinh-di-d%E1%BA%BFn-cac-thanh-d%E1%BB%8Ba-ph%E1%BA%ADt-giao/


LÂM TỲ NI : Nơi Bồ Tát Tất Đạt Đa Đản sinh.

Ký sự của Huỳnh Ngọc Chênh – Thanh Nien
Tôi cùng đoàn du khách Việt Nam vượt qua biên giới phía bắc Ấn Độ để đến Nêpal vào một buổi tối. Xuất phát từ kinh thành Xá Vệ từ lúc 1 giờ trưa nhưng mãi đến 8 giờ tối mới đến được cửa khẩu vì xe đi lạc đường. May mắn thay, chúng tôi đến những phút làm việc cuối cùng trong ngày của công an cửa khẩu của cả hai bên. Chúng tôi kịp thời làm giấy tờ để cả đoàn qua được cửa khẩu trót lọt và về đến khách sạn an toàn.

Nước Nêpal hiền hòa nằm dưới chân dãy Hymalaya huyền thoại chào đón chúng tôi bằng buổi bình minh tươi đẹp. Sau khi ăn sáng chúng tôi đi bộ đến vườn Lâm Tỳ Ni ở bên kia đường, đối diện với khách sạn mà chúng tôi ở lại qua đêm.



Mới sáng sớm đã thấy hàng trăm du khách và phật tử từ khắp năm châu có mặt trong vườn Lâm Tỳ Ni. Chỗ này là nhà sư Tây Tạng vạm vỡ trong áo cà sa màu đỏ đang cùng những phật tử của mình thực hiện những nghi lễ tôn giáo dưới gốc cây bồ đề bên cạnh hồ nước mà hoàng hậu Maya đã tắm trước khi hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa. Chỗ kia là các nhà sư Nhật Bản trong sắc phục màu đen đang ngồi thiền trước trụ bia của vua A Dục dựng lên ghi lại Phật tích. Dưới tán cây vô ưu râm mát, nơi hoàng hậu Maya với lên hái một cành hoa trước khi lâm bồn, là nhà sư Thái Lan đang ngồi giảng kinh cho các đệ tử của mình. Hàng trăm nhà sư và du khách khác thì đang xếp hàng chờ vào xem tảng đá mà vua A Dục đặt đánh dấu chính xác chỗ hoàng hậu lâm bồn.

Sách Đại Đường Tây Quốc Ký của ngài Huyền Trang ghi lại rằng vương quốc của vua Tịnh Phạn có chu vi chừng 4.000 lý (1.880 km2). Cách đây 2.600 năm, vào năm 563 trước công nguyên, khi sắp đến ngày lâm bồn, hoàng hậu Maya Devi, vợ vua Tịnh Phạn, xin phép nhà vua cho bà rời hoàng cung trở về quê nhà để sinh con đầu lòng theo đúng phong tục và truyền thống xứ này. Khi rời khỏi kinh thành chừng 25 cây số, ngang qua khu vườn tại làng Lâm Tỳ Ni, thái tử Tất Đạt Đa, người sau này trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni đã giáng trần dưới gốc cây vô ưu trong khu vườn xinh đẹp này.

Phật tích quan trọng đó sẽ bị quên lãng nếu như sau đó 300 năm không có một vị vua sùng đạo là A Dục (Asoka) cho đặt trụ đá cao ghi lại sự tích ra đời của Phật Thích Ca cũng như đặt viên đá xác định chính xác vị trí chào đời của đức Phật. Rồi khoảng 1.000 năm sau vào thế kỷ thứ năm nhà sư Pháp Hiển rồi tiếp theo sau đó là nhà sư Huyền Trang đã đến địa điểm này và nhìn thấy trụ bia và viên đá của vua A Dục còn tồn tại.


Nhưng sau đó thì chiến tranh, rồi sự tàn phá của giặc giã, vườn Lâm Tỳ Ni hoang tàn, trụ bia và viên đá bị ngã đổ và chôn vùi xuống lòng đất mãi đến thế kỷ thứ 19 mới được giới khảo cổ khai quật lên và dựng lại như cũ. Tuy nhiên ngày nay, vườn Lâm Tỳ Ni thuộc vào vương quốc Nêpal với dân chúng ở chung quanh không còn là phật tử nữa. Vườn bị bỏ hoang phế, điêu tàn.

Nhà sư Việt Nam Thích Huyền Diệu năm 1969 đã đến hành hương kể lại rằng: Lần đầu tiên, khi đặt chân đến đây chiêm bái, tôi thật sự bàng hoàng. Cảnh quan vùng đất thiêng thật điêu tàn, chung quanh trụ đá thánh tích kỷ niệm nơi Đức Phật đản sinh bị người dân phóng uế bừa bãi. Tôi buồn rầu đi quanh nơi này lòng thầm khấn nguyện, nếu quả thật đây là nơi linh thiêng và đúng là chỗ Phật đản sinh thì xin cho tôi được nhìn thấy thánh địa phát triển trước khi nhắm mắt từ giã cõi đời.

Lời phát nguyện đó như một nghiệp duyên nào đó sau này đã gắn phần còn lại cuộc đời của ông vào vùng Phật tích quan trọng này.

Kể từ đó, đi bất cứ nơi nào trên thế giới để thuyết giảng kinh Phật cũng như các môn học khác ông đều nhắc lại tâm nguyện này với các đệ tử của ông. Trong hầu hết các bài thuyết giảng, ông đều mang Lâm Tỳ Ni của Phật giáo ra so sánh với các thánh địa Mecca, Vatican, Benares, và Jerusalem của lần lượt các tôn giáo: Islam, Thiên Chúa, Hindu và Do Thái giáo.

Và nhân ông gieo ra, đã gặt được quả: năm 1993 khi ông đang dốc sức xây chùa Việt Nam Phật Quốc tự tại Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ thì có một nhóm đệ tử của ông bay đến mời ông qua Nêpal yết kiến nhà vua của nước này để nhận đất xây chùa gần vườn Lâm Tỳ Ni như nguyện ước của ông.

Nhà vua cho phi công chở ông bay trên vùng trời Lâm Tỳ Ni để chọn đất. Ông nhận 2 mẫu đất và quyết tâm ở lại đó xây chùa dù lúc đó trong túi ông chỉ còn vỏn vẹn 60 đô la.

Và ngôi chùa quốc tế đầu tiên tại thánh địa Lâm Tỳ Ni ra đời, mở đầu cho hàng loạt các ngôi chùa quốc tế khác lần lượt mọc lên. Vương Quốc Thái Lan xây một ngôi chùa toàn một màu trắng tinh khiết tuyệt đẹp, Trung Quốc thì một ngôi chùa hùng vĩ theo mô típ Thiếu Lâm tự, Nhật Bản xây đại tháp hòa bình cùng với một thư viện và viện bảo tàng mang tầm vóc quốc tế, Hàn Quốc thì có cả một chương trình quy mô nhằm xây dựng một tu viện to lớn với chánh điện chứa tới 4.000 người. Rồi chùa của Bangladesh, Tây Tạng, Butan, Tích Lan, Mông Cổ… và cả của Đức, Pháp nữa.

Khi đến nơi này, chúng tôi đếm được khoảng 22 ngôi chùa đã và đang mọc lên. Những ngôi chùa này tuy được cấp đất và khởi công sau Việt Nam Phật Quốc tự của thầy Huyền Diệu nhưng phần lớn nhờ vào ngân sách của quốc gia nước đó nên đã hoàn thành trước và quy mô hoành tráng hơn.

Nhờ vậy mà Lâm Tỳ Ni ngày nay càng lúc càng trở nên hưng vượng đến mức không ngờ, ngay cả quốc vương Birendra của Nêpal khi còn sống cũng đã kinh ngạc trước sự phát triển nhanh chóng một cách thần kỳ của vùng thánh địa này.





VƯỜN LỘC UYỂN :


Lộc-uyển là nơi mà đức Phật đến thuyết pháp lần đầu tiên, sau khi thành đạo, cho năm người bạn đồng tu của mình là nhóm ông Kiều Trần Như. Vườn này nằm ở ngoại ô thành Ba La Nại. Nhóm ông Kiều Trần Như gồm năm tu sĩ, ban đầu cùng tu với đức Phật, theo phương pháp khổ hạnh. Ðược ít lâu, nhận thấy phương pháp này không có hiệu quả, trái lại cứ làm cho thân thể mỗi ngày mỗi gầy yếu, đức Phật đã rời nhóm ông Kiều Trần Như và phương pháp tu hành của họ. Ngài trở lại ăn uống như thường, và bị nhóm ông Kiều Trần Như chế nhạo, khinh rẻ. Sau một thời gian tu luyện một mình, đức Phật đã thành đạo Chánh đẳng Chánh giác. Ngài trở về vườn Lộc Uyển và trình bày sự giác ngộ của mình cho năm người bạn đồng tu là nhóm ông Kiều Trần Như nghe. Năm người này trở thành năm đệ tử đầu tiên của ngài. Từ đó Lộc Uyển trở thành một đạo tràng mà đức Phật Thích Ca thường tới lui thuyết pháp. Vua A Dục đã dựng lên ở đây một trụ đá chạm trổ rất đẹp để đánh dấu nơi thuyết pháp đầu tiên của Phật.

Khi Ngài Huyền Trang đến đây, mọi thánh tích của đức Phật khi còn tại thế đều được giữ nguyên vẹn và kính cẩn, vì ở đây, đang có một ngàn rưởi vị Tỳ kheo tu hành trong tịnh xá dựng lên ở vườn Lộc Uyển. Nhờ thế, Ngài Huyền Trang được chiêm ngưỡng những cái hồ mà đức Phật đã dùng hoặc để tắm, để giặt, hay để rửa bình bát



Nguồn :   http://datphat.wordpress.com/2007/09/07/ngai-huy%E1%BB%81n-trang-da-t%E1%BB%ABng-chiem-bai-v%C6%B0%E1%BB%9Dn-l%E1%BB%99c-uy%E1%BB%83n/


Tại vườn Lộc Uyển, Ngài giảng Kinh Chuyển Pháp Luân cho năm vị tu sĩ trước đây đã từng sống chung với Thái tử Tất đạt ta khi còn theo pháp tu Khổ hạnh.
Trong bản Kinh Chuyển Pháp Luân, Ðức Phật đã chỉ rỏ con đường Trung Ðạo, trình bày cặn kẽ bốn Chơn lý Nhiệm mầu (Tứ Diệu Ðế) và con đường đưa tới Thánh quả, thoát khỏi cảnh Luân hồi và chứng đắc Niết Bàn, tức là Bát Chánh Ðạo. Sau thời pháp, ông Kiều Trần Như (Kondanna) chứng được quả vị Tu đà huờn.

Bốn vị tu sĩ kia là các ông Bà-sa-ba (Vappa), Bạt-đề (Bhaddiya), Ma-ha-nam (Mahanama) và Át-bệ (Assaji) vẫn chưa chứng quả. Ðức Phật liền lưu lại đây và giảng tiếp Kinh Vô Ngã Tướng, nhằm mục đích giúp cho bốn vị tu sĩ còn lại được bước vào giòng nước Thánh. Như thế, Kinh Vô Ngã Tướng chính là bản kinh thứ nhì trong Tam Tạng Kinh Ðiển vậy.

Nguồn : http://datphat.wordpress.com/2007/09/07/dức-phật-giảng-kinh-chuyển-phap-luan-tại-


Hành hương về thánh tích vườn lộc uyển Ấn Độ

20.11.2012 13:31

Bao quanh vườn lộc uyển Sarnath cổ kính là những tích Phật giáo chứa đầy vẻ huyền hoặc.

Trong hành trình khám phá xứ sở Phật giáo Ấn Độ, bất cứ Phật tử nào cũng ao ước một lần được tới Sarnath, hay còn gọi là thánh tích vườn lộc uyển. 



Sarnath trong tiếng Ấn Độ nghĩa là vườn lộc uyển hay vườn nai, nằm cách thành phố Varanasi, bang Uttar Pradesh nổi tiếng xứ Ấn 13km về phía Đông Bắc. 



Sở dĩ khu vườn có cái tên là vườn lộc uyển là bởi nó gắn với câu chuyện về tấm lòng từ bi của một chú nai đầu đàn dũng cảm. Tương truyền xưa kia, có một đàn nai hơn nghìn con sống trong khu rừng sâu, dẫn đầu là chú nai đầu đàn khỏe mạnh, thông minh. 



Nhưng tai họa ập đến cho khu rừng khi vị vua nơi đây rất thích ăn thịt nai và thường đi săn bắn. Để tránh được họa diệt vong, thảm sát cho bầy đàn của mình, chú nai đầu đàn (tiền thân của đức Phaajat) liền chạy ra khỏi rừng, xin nhà vua đừng đốt rừng, thảm sát nai. Thay vào đó, mỗi ngày đàn nai sẽ cống nạp một con nai và nhà vua đã đồng ý. 



Một lần nọ, con nai mẹ đang mang bầu phải đi nộp mạng. Thương nai con trong bụng, nai mẹ xin chờ đến ngày sinh xong mới nộp mạng. Nai đầu đàn thấy vậy thương tình liền thay nai mẹ đến cống nạp cho nhà vua. Quá ngạc nhiên, nhà vua liền hỏi rõ sự tình. Khi biết được câu chuyện cảm động và sự dũng cảm, từ bi của nai đầu đàn, nhà vua hối cải, quyết định bãi bỏ lệnh cống nạp nai, phong khu rừng là vườn lộc uyển thiêng liêng, không ai được xâm phạm. 

Sau này, Sarnath lại càng nổi danh hơn vì được coi là nơi đầu tiên đức Phật Thích ca tới thuyết giảng sau khi giác ngộ. Bài thuyết pháp đầu tiên này được gọi là kinh Chuyển Pháp Luân. 



Ngày nay, khu vườn lộc uyển không còn giữ được nguyên trạng như thời kỳ huy hoàng của Phật giáo do nhiều phần đã bị phá hủy bởi những tín đồ đạo Hồi cực đoan. Tuy nhiên, vẫn còn những di tích sót lại, thể hiện sự uy nghi của chốn thánh địa. 



Tháp Dhamek (tháp Chuyển Pháp Luân) là một trong số đó. Tháp cao lớn, uy nghiêm, là bảo tháp nổi bật nhất trong khu vườn. 



Chaukhandi cũng là một ngôi tháp quan trọng khác trong khu vườn. Đây là nơi thờ cúng xá lợi của Phật, được xây dựng trên nền đất cao từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 6. 



Tịnh xá Mulangandhakuti là nơi đức Phật an cư trong mùa mưa, ngày nay là một tu viện với những bức tranh tường tuyệt đẹp. Phía sau tu viện, người ta vẫn thấy những chú nai chạy nhảy tự do, thoải mái. 



Một công trình khác không kém phần quan trọng được xây dựng dưới thời vua Ashoka là các trụ đá lớn, với cấu trúc đầu sư tử nguyên thủy. Tuy nhiên, ngày nay, du khách chỉ có thể chiêm ngưỡng các trụ đá nguyên vẹn trong bảo tàng. Những cột trụ còn lại trong vườn lộc uyển đều chỉ là tàn tích. 



Ngày nay, thánh tích được quan tâm và bảo vệ bởi những nhà chức trách, trở thành điểm du lịch tôn giáo quan trọng trên quê hương của Phật giáo. 








Dean (Xzone/TTTĐ)

Nguồn :http://xzone.vn/Web/77/482/94131/Hanh-huong-ve-thanh-tich-vuon-loc-uyen-An-Do.html

 

 

Chiêm bái Phật tích tâm hoan hỷ sẽ được sinh Thiên

Bốn Phật tích cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp tu tập và độ sinh của đức Thế Tôn bao gồm: Nơi Thế Tôn đản sinh (Lumbini), nơi Thế Tôn thành đạo (Bodhgaya), nơi Thế Tôn chuyển Pháp luân (Isipatana), nơi Thế Tôn nhập Niết bàn (Kusinara).
Một thời Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinara Upavattana, rừng Sala của dòng họ Malla, Ngài nói với Tôn giả Ananda:

Này Ananda, có bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?

“Đây là chỗ Như Lai đản sinh”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

“Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.

Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ sẽ đến với niềm suy tư: “Đây là chỗ Như Lai đản sinh”, “Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác”, “Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết bàn”.

Này Ananda, những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sinh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.

(Trường Bộ Kinh I, Kinh Đại Bát Niết Bàn).

 

SUY NGHIỆM:

Không phải ngẫu nhiên mà trước khi nhập Niết bàn, Thế Tôn đã cẩn trọng di huấn môn đệ vấn đề chiêm bái Phật tích. Suy nghiệm về kết quả “những ai trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sinh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên”, gần tương đương với thành quả tu tập Bát quan trai giới và Thập thiện giới, mới thấy việc hành hương chiêm bái Phật tích quan trọng đến dường nào.

Bốn Phật tích cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp tu tập và độ sinh của đức Thế Tôn bao gồm: Nơi Thế Tôn đản sinh (Lumbini), nơi Thế Tôn thành đạo (Bodhgaya), nơi Thế Tôn chuyển Pháp luân (Isipatana), nơi Thế Tôn nhập Niết bàn (Kusinara).

Gần hai mươi sáu thế kỷ đã trôi qua, bốn Phật tích về cảnh quan cũng nhạt nhòa và phai mờ vô thường cùng năm tháng nhưng nguồn mạch tuệ giác và từ bi của Thế Tôn vẫn dạt dào. Những ai hội đủ duyên lành được đặt chân lên Phật tích mới cảm nhận sâu sắc những lời huyền ký răn dạy chiêm bái “Tứ động tâm” của Thế Tôn.

Tứ động tâm, bốn nơi làm cho tâm tư của người chiêm bái, khách hành hương rung động, xúc cảm ngập tràn. Vẫn còn văng vẳng đâu đây tiếng nhạc trời du dương và khung cảnh huy hoàng nơi Ngài đản sinh giáng thế. Đây rồi cội Bồ đề linh thiêng ngày xưa Thế Tôn đã ngồi thiền định ngời sáng hào quang. Kia là khu vườn Nai tịch tịnh nơi Ngài đã vận chuyển bánh xe Chính pháp. Và đó là dấu tích cuối cùng, nơi Ngài yên nghỉ nhập Vô dư y Niết-bàn.

Hành hương về xứ Phật để chiêm bái những Thánh tích là ao ước, khát vọng của nhiều Phật tử. Tận trong sâu thẳm nơi tấm lòng mỗi người con Phật ai cũng mong mỏi được ít nhất một lần trong đời chiêm ngưỡng và lễ bái bốn Phật tích, để tiếp nhận thêm niềm tin, sức sống và năng lượng yêu thương từ tuệ giác Thế Tôn.

Đức Thế Tôn đã huyền ký, những ai đã từng một lần chiêm bái Thánh tích rồi từ trần trong thâm tín hoan hỷ thì được sinh về cõi lành. Cho nên thật đại hạnh và phước duyên cho những người con Phật nào đã từng hành hương Phật tích với niềm tin Tam bảo trọn vẹn, sâu sắc nhất.

Ngày nay, vấn đề thực hiện một chuyến du lịch hành hương tâm linh về xứ Phật để chiêm bái Phật tích là điều không quá khó đối với nhiều người. Những người con Phật nào hội đủ duyên lành thì nên chuẩn bị hành trang về xứ Phật càng sớm càng tốt. Tuy Phật ở Tây Thiên (Ấn Độ) nhưng cũng ở ngay trong tự tâm của mỗi người. Nếu những ai chưa đủ duyên về xứ Phật thì cũng có thể gặp Phật bằng cách hướng vọng về Ngài, trở về và làm sáng tỏ Phật tính nơi tự tâm sáng suốt và trong sạch của chính mình


Thích Quảng Tánh
* Chuyên đề Lời Phật dạy trong Kinh tạng Nikaya do tác giả Thích Quảng Tánh biên soạn đã đăng trên mạng internet.
Khi sử dụng trên www.phatgiao.org.vn, BBT đã xin phép tác giả.


Nguồn : http://phatgiao.org.vn/loi-phat-day/201302/Chiem-bai-Phat-tich-tam-hoan-hy-se-duoc-sinh-Thien-9353/



Các tin khác
  • Ngắm lại 7 hoa sen hồng trên kênh Nhiêu Lộc
  • Hơn 2 vạn người dự Đại Lễ Phật Đản tại Thiền Tôn Phật Quang
  • TP.HCM: Ấn tượng đêm diễu hành xe hoa mừng Phật đản PL.2557
  • Chùm ảnh: Phật tử chùa Quán Sứ rước xá lợi Phật kính mừng Phật đản
  • Đi bộ Rước Phật linh thiêng và hoành tráng ở Huế
  • 1.500 đại biểu quốc tế tham dự Đại lễ Vesak LHQ 2013
  • Ý nghĩa “Duy ngã độc tôn”
  • Hưng Yên: Phật giáo huyện Ân Thi tổ chức Phật đản
  • Hàn Quốc : Lễ Phật đản Ngôi chùa độc đáo Thành phố Busan
  • Ý nghĩa Phật bước đi bảy bước
  • Hàn Quốc: 5 vạn người dự Đại lễ Phật đản và diễu hành hoa đăng
  • Thông điệp Phật đản PL.2557 của đức Pháp chủ GHPGVN
  • Ý nghĩa xuất gia của Thái tử Tất Đạt Đa
  • Thông bạch hướng dẫn Đại lễ Phật đản PL.2557
  • Năm 2013: Cách tính Phật lịch và Phật Đản như thế nào?
  • Hưng Yên : Đêm hội Hoa đăng Khánh Đản Đức Phật A DI ĐÀ Chùa Hoàng Xá ;Kim Động
  • Xe hoa diễu hành tại TP Vũng Tàu
  • Lược sử Ðức Phật Thích Ca từ thành đạo đến nhập niết bàn
  • Xe hoa diễu hành tại TP Huế
  • Xe hoa diễu hành tại TP HCM
  •   1  2       
    Video
       
        HY:diễu hành xe hoa Kính
        mừng  Đại Lễ   Phật Đản





    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Những thai nhi vô tội
    Tin nổi bật
    LỄ QUY Y TAM BẢO TẠI CHÙA PHÚC QUANG .
    NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
    XEM NGÀYvà LỄ BÁI,XUẤT HÀNH XUÂN BÍNH THÂN...
    NHÌN NHẬN , NHẬN ĐỊNH, DƯ ĐOÁN
    “CHÂN THỰC BẤT HƯ”
    BÁO DÂN TRÍ XÚC PHẠM TÔN GIÁO ( ĐẠO PHẬT - NGÔI CHÙA )
    BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
    Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
    Nghiêm trì giới luật
    LỜI TỰ SỰ THÀNH TÂM NHẤT .
    Ngày trở về an cư bên Sư Phụ...
    Hưng Yên: Lễ khai giảng khóa tu mùa hè lần thứ 05
    Đức Pháp chủ quang lâm lễ khai pháp hạ trường PG tỉnh Hưng Yên
    Hưng Yên: Lễ khai khóa ACKH và cầu nguyện cho biển Đông
    HÌNH ẢNH và QUANG CẢNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ....
    MỘT SỰ BẤT TÍN THÌ VẠN SỰ KHÔNG TIN ....
    “BIẾT THÌ THƯA THỚT,KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE…”
    Xuân về : lại nghĩ thân cò cũng như thân chim
    NGÔI CHÙA ĐI TRƯỚC VỀ SAU ( Khánh thành ngôi Tổ đường )`
    Người mẹ Liệt sĩ bị dồn vào chân tường...
    HOẰNG PHÁP HAY ỨNG PHÓ ĐẠO TRÀNG ĐỀU NÊN GIỮ GÌN CÁI GỐC
    Ý nghĩa ngày Rằm tháng Bảy, mùa báo hiếu của người con Phật
    SỰ GIA HỘ CỦA ĐỨC PHẬT
    Chuyện cảm động về 'thiên thần' bé nhỏ nơi cửa Phật
    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
    Vì sao cần niệm Phật?
    Hưng Yên: TT. Thích Chân Quang thuyết giảng tại chùa Bụt Mọc
    Hưng Yên: TT Thích Chân Quang chia sẻ Phật Pháp tại huyện Tiên Lữ
    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Phân phát trái phép ấn phẩm văn hóa để truyền giáo
    Từ giờ đầu “khai bút” năm Nhâm Thìn đến ngày thứ 363 tiếp nối…
    Bình giải tập tục cúng sao hạn
    Hưng Yên : Hơn 100 người quy y Tam bảo ở chùa Mỹ Xá
    Vì sao lại niệm Nam mô A-di-đà Phật?
    Phật tử Park Geun hye đắc cử Tổng thống Hàn Quốc
    Đại Lễ Hoàn Nguyện tại Lâm Tỳ Ni thật mãn nguyện
    Một nghi thức PG được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể
    Ý nghĩa chữ Vạn ở trước ngực Tượng Phật ...
    Sự quan trọng của nếp sống Lục hoà đối với người học Phật
    Ý nghĩa lục hòa và chuyện quả cam
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Lễ cầu siêu tại Đền thờ bờ Bắc sông Thạch Hãn ....
    NHỚ VỀ LỤC HÒA PHẢI TỰ CHỈNH ĐỐN...
    Phật giáo với việc cai trị đất nước
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    NÓI THẬT "trật lỗ tai"
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Chùa Phúc Quang ( Phúc Quang Tự )
    Những thai nhi vô tội
    * TÂM THƯ THỈNH NGUYỆN
    Thực hư chuyện cậu bé 'đầu thai' ở Vụ Bản
    Ý nghĩa rằm tháng bảy
    Nhà ngoại cảm ĐOÀN VIỆT TIẾN - giải mã thông tin bằng năng lượng cảm xạ
    Cõi âm và khả năng ngoại cảm
    Đừng đánh mất các truyền thống tốt đẹp ngày Tết
    Ban Văn hóa TW làm việc với THPG Hưng Yên
    Quang cáo