Đức Phật ra đời vì an lạc, hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích, an vui cho chư thiên và loài người. The Buddha appeared in the world for the happiness and welfare of many, for the benefits and happiess of gods and men. 为人天之利乐故,佛出现世间

 
Danh mục chính
Hỗ trợ online
Lượt truy cập
  Số người online:26
  Tổng truy cập: 2212833
Liên kết website
 
ALbum

  Chùa cảnh HY
Chùa Ông :
Thiền sư Từ Đạo Hạnh và ngôi chùa Ông ( Văn Lâm ; Hưng Yên ) In Email

Nguyễn Ngọc Nhuận, Nguyễn Đức Toàn

1. Thiền sư Từ Đạo Hạnh với Chùa Ông

Từ đường quốc lộ số 5, cách Hà Nội 17km rẽ phải vào thôn Bình Lương, xã Tân Quang, chúng ta sẽ tới một ngôi chùa cổ, được nhân dân nơi đây gọi là chùa Ông. Ngôi chùa còn có tên chữ Hán là Bản Tịch tự, được xây dựng vào khoảng thế kỷ XII, XIII, phụng thờ Hoàng đế thứ 5 nhà Lý là Lý Thần Tông và Thiền sư Từ Đạo Hạnh.

 

Theo văn bia của chùa còn ghi lại (1), ngôi chùa được khởi dựng dưới thời vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Văn bia mang ký hiệu 5527 - 5528, trên trán bia đề: Bản Tịch tự bi minh, niên đại bia đề thời Lê Chính Hòa thứ 20 (1644), nội dung bia ghi việc thờ đức Thiền sư Từ Đạo Hạnh và ý nghĩa việc đặt tên chùa là chùa Bản Tịch - Nguyên văn như sau: Thị tự bản cổ tích danh lam      tạo tự Lý triều Thần Tông đệ ngũ Hoàng đế, trung phụng Đại thánh Từ Đạo Hạnh tôn giả, Phật nhật thường minh pháp luân thường chuyển, bản tính tịch nhiên bất động nhân dĩ tự danh….Dịch nghĩa: Chùa ấy vốn là danh lam cổ tích xưa, được gây dựng từ thời vua Lý Thần Tông, Hoàng đế thứ 5 triều Lý. Bên trong phụng thờ Đại thánh Từ Đạo Hạnh tôn giả. Phật nhật hào quang, pháp luân chuyển mãi, bản tính tịch nhiên không hề lay động, thế nhân lấy đó mà đặt tên chùa (là Bản tịch).

Còn tên Nôm gọi là chùa Ông, có lẽ do nhân dân ta vẫn tôn xưng đức thánh Từ Đạo Hạnh là Ông Thánh Láng (2), nên gọi tên chùa là như vậy. Thác bản văn bia lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm mang ký hiệu 5529 - 5530 với tiêu đề Bản Tịch tự phúc điền bi, có niên đại Thịnh Đức thứ 5 (1657) thời Lê Thần Tông còn ghi nguyên văn như sau: Quyến duy Kinh Bắc xứ, Thuận An  phủ, Gia Lâm huyện, Đình Loan xã, Lương Xá thôn cựu tích, Phật tự nãi Đại thánh Từ Đạo Hạnh tôn giả sở tu hành chi sở dã , kỳ tự tắc tự Lý triều Thần Tông đệ ngũ Hoàng đế sở sáng lập yên. Dịch nghĩa: Nghĩ rằng Di tích cũ ở thôn Lương Xá, xã Đình Loan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc có chùa Phật, là nơi Đại Thánh Từ Đạo Hạnh Tôn giả từng tu hành. Chùa do vua thứ 5 triều Lý là Lý Thần Tông sáng lập ( 1128 - 1138).

Khi khảo sát về diên cách địa lý qua các đời thì chùa Ông dưới thời Lê  là nằm trên địa phận hai thôn Bình Lương, Lương Xá, xã Đình Loan, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An thuộc xứ Kinh Bắc. Đời nhà Mạc thì lấy Thuận An đổi lệ vào trấn Hải Dương. Đến khi nhà Lê trung hưng lại chuyển về như cũ. Năm Minh Mạng thứ 13 (1834) đổi thành tỉnh Bắc Ninh. Tới cuối đời Nguyễn mới gọi là huyện Văn Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên.

Cũng giống như nơi khác thờ phụng Thiền sư Từ Đạo Hạnh, tại chùa Chiêu Thiền (chùa Láng), chùa Thiên Phúc (chùa Thầy), ngoài tượng đức thánh Từ Đạo Hạnh ra đều thờ tượng của vua Lý Thần Tông. Tại đây nhân dân hai thôn xưa Bình Lương - Lương Xá tại chùa Ông cũng thờ cả Lý Thần Tông, vì theo huyền thoại thì Lý Thần Tông chính là hóa thân của Từ Đạo Hạnh. Hiện trong hậu cung phía bên hữu, chùa còn giữ được một bức tượng bằng đồng hình một vị sư, mặc áo tu hành đang ngồi thiền. Gian bên ngoài, phía  hữu có một bài vị đề là:

Lý Thần Tông Đệ Ngũ Hoàng Đế

Đại Thánh Từ Đạo Hạnh Tôn Giả

Từ Đạo Hạnh là “một trong ba vị thánh được thờ rất phổ biến và nổi tiếng dưới triều Lý (3) ( Không Lộ, Giác Hải, Từ Đạo Hạnh). Sự tích về phép thần thông cùng việc đầu thai, hoán kiếp thành vua Lý Thần Tông của Từ Đạo Hạnh được ghi lại đầy đủ trong các sách Hán Nôm như:

- Lĩnh Nam Chích Quái,

- Việt Điện U Linh,

- Thiền Uyển Tập Anh,

- Đại Việt Sử Lược,

- An Nam Chí Lược,

- An Nam Chí Nguyên,

- Việt sử Tiêu án

- Đại Việt sử Ký Toàn Thư,

- Đại Nam Nhất Thống Chí,

Và bản Thần tích: - Hưng Yên tỉnh, Văn Lâm huyện, Nghĩa Trai tổng, Đình Loan xã, Bình Lương thôn thần tích.

Ngoài ra, sự tích về việc tu hành của Từ Đạo Hạnh còn luôn gắn liền với các huyền thoại của hai Thiền sư Minh Không và Giác Hải trong các tập Thần tích khác như:

- Thánh tổ Tam vị Đại vương sự tích (4)

- Đại Thánh Không lộ linh thông ngọc phật (5)

- Nam thiên thánh tổ Giác Hải đại sư  (6)

- Từ Đạo Hạnh đại thánh (7)

- Thánh tổ đại pháp thiền sư (8)

Từ những tư liệu trên, chúng tôi xin tóm tắt sự tích về ngài:

Thiền sư họ Từ húy là Lộ trú quán ở làng Yên Lãng (tức làng Láng), cha là Từ Vinh, giữ chức Tăng quan đô sát, mẹ là Tăng Thị Loan. Từ Lộ ngày thường thì chơi bời đàn hát, đánh đáo chọi gà, đến đêm khuya thì mới chăm chỉ đọc sách, cha không biết tưởng Từ Lộ là người lêu lổng. Đến một tối, đi ngang qua phòng sách của con mới hay Lộ là người có chí, từ đó không còn lo lắng gì về con nữa.

Tương truyền Từ Vinh có hiềm khích với Diên Thành hầu, nhà Diên Thành hầu có người pháp sư tên hiệu là Đại Điên. Hầu nhờ Đại Điên dùng phép thuật đánh chết Từ Vinh, quẳng thây xuống sông Tô Lịch. Xác Từ Vinh trôi đến cầu Quyết, trước nhà Diên Thành hầu thì dựng đứng lên chỉ tay vào nhà kẻ thù. Diên Thành hầu sợ hãi,  lại nhờ Pháp sư Đại Điên đến  làm phép niệm chú, cái thây mới chịu trôi đi. Đạo Hạnh căm giận muốn trả thù cho cha, nhưng khi cầm gậy đến định đánh Đại Điên thì nghe trên không trung có tiếng quát: “Chớ! Chớ!”, Đạo Hạnh biết Đại Điên phép thuật còn cao hơn mình, bèn quyết chí tìm đường sang Tây Trúc học đạo, sau đó trở về tu luyện phép thuật. Khi phép thuật đã tinh thông có thể khiến cả Tứ trấn thiên vương sai xuống làm đệ tử để hầu hạ. Đạo Hạnh thử phép thuật bằng cách ra sông Quyết, thả cây gậy xuống, chiếc gậy tự trôi ngược đến tận Tây Dương (tức Cầu Giấy). Ngài bèn thu gậy về, biết phép mình đã cao hơn phép của Đại Điên, liền tìm Đại Điên để trả thù. Đại Điên thấy Đạo Hạnh đến liền nói: “Mày không nhớ chuyện chi trước sao?”

Đạo Hạnh ngẩng lên trời thấy không có tiếng quát như lần trước,  liền dùng pháp trượng đánh. Đại Điên liền phát bệnh chết.

Sau khi trả được thù cha, dứt luyến hồng trần. Đạo Hạnh liền bỏ đi vân du các nơi. Thấy phong cảnh chùa Phật Tích (tức chùa Thầy ngày nay) núi Sài Sơn thanh u tĩnh mịch, liền đến dựng am để tu hành.

Lúc bấy giờ là vào thời vua Lý Nhân Tông, nhà vua ở ngôi đã lâu mà không có con để kế ngôi, nhà vua nhiều lần lập đàn tràng (9) cầu trởi phật phù hộ nhưng chưa được, ý cũng muốn nhận con nuôi để cho có người nối dõi. Tương truyền linh hồn Đại Điên còn chưa tan, nên hóa phép biến thành đứa bé 3 tuổi ở bờ biển xứ Thanh, thông minh xuất chúng, cái gì cũng biết, tự nhận tên là Giác Hoàng, con đích của nhà vua, phàm vua làm điều gì đứa trẻ ấy cũng biết. Tiếng đồn đến kinh đô, nhiều người cho rằng đứa bé là do thần nhân đầu thai để kế thừa ngôi vị ứng điềm cầu con của nhà vua. Vua bèn sai người đón đứa bé về cung ý cũng định lập làm người kế tự. Các quan hết sức can ngăn, có người nói nếu đứa bé ấy quả thực linh dị tất thác sinh vào nội cung rồi sau mới lập làm Thái tử được. Vua nghe theo, cho mở hội lớn bảy ngày bảy đêm để làm phép thác thai.

Đạo Hạnh nghe chuyện nghĩ: “Kẻ này dùng phép yêu dị để mê hoặc mọi người, rối loạn chính pháp, ta nỡ nào ngồi nhìn”. Đạo Hạnh liền kết một xâu chuỗi hạt,  làm phép rồi nhờ người chị gái giả làm người xem hội, lén đem chuỗi hạt treo lên dèm cửa. Đến ngày thứ 3 thì Giác Hoàng kêu đau, bảo mọi người: “Ta đi khắp Hoàng thành đâu cũng có lưới sắt bủa vây, muốn thác sinh cũng không biết làm cách nào”.

Vua sai người điều tra thì phát  hiện ra chuỗi hạt của Đạo Hạnh, liền sai quân đi bắt, trói dưới lầu Hưng Thánh để định tội.

Lúc ấy có em trai vua là Sùng Hiền hầu đi qua, Đạo Hạnh liền giãi bày sự tình nhờ Hầu xin giúp cho, sau này sẽ đầu thai để đáp tạ ơn đức (Sùng Hiền hầu cũng chưa có con trai), Hầu nhận lời. Khi vào chầu Sùng Hiền hầu tâu:

“ Giác Hoàng nếu quả thật có thần lực thì dù trăm Từ Lộ làm bùa phép cũng không hại được. Đằng này lại bị lưới phép của Từ Lộ phá, chứng tỏ Từ Lộ phép cao  hơn Giác Hoàng, xin bệ hạ tha cho Từ Lộ và để cho Từ Lộ được thác sinh”.

Vua nghe theo lời tâu của Sùng Hiền hầu mà tha cho. Đạo Hạnh liền đến phủ của Sùng Hiền hầu, đi vào chỗ  phu nhân nằm. Lại dặn Hầu rằng: “ Khi nào phu nhân sắp sinh thì cho người báo cho bần tăng biết trước”.

Từ đó phu nhân cảm thấy mình có thai. Đến ngày sinh, phu nhân đẻ khó, mãi không ra. Sùng Hiền hầu nhớ ra lời Ngài dặn, sai người phi ngựa đến Sài Sơn báo tin. Đạo Hạnh liền tắm gội sạch sẽ, dặn dò lại đệ tự rằng:

Nghiệp duyên của ta chưa dứt, nên phải thác sinh làm vua ở cõi nhân

gian. Sau này thọ chung sẽ làm thiên tử ở cõi trời thứ 33. Nếu thấy chân thân ta hư nát thì lúc ấy ta mới nhập Niết bàn, không còn trong vòng sinh diệt nữa”.

Nói xong liền đi vào hang mà hóa (10). Phu nhân của Sùng Hiền hầu liền sinh con trai, đặt tiên là Lý Dương Hoán.

Dương Hoán mới lên hai tuổi mà khôi ngô đĩnh ngộ lạ thường.

Năm Đinh Dậu niên hiệu Hội Tường Đại Khánh 8 (1117), vua Nhân Tông cho tìm con trai trong tông thất để nuôi trong cung: Trẫm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối, ngôi báu biết truyền cho ai. Vậy trẫm nuôi các con trai cảu các vị Sùng Hiền hầu, Thành Khánh hầu, Thành Quảng hầu, Thành Chiêu hầu, Thành Hưng hầu, chọn người nào giỏi thì lập làm Thái tử. Bấy giờ con của Sùng Hiền hầu là Dương Hoán mới lên hai mà thông minh lanh lợi, vua rất yêu mến lập làm Hoàng Thái tử” (11)

Việc Từ Đạo Hạnh đầu thai thành vua Lý Thần Tông được truyền tụng rất nhiều trong dân gian. Ngoài các sách dã sử, thần tích thì ngay cả bộ chính sử lớn như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng đề cập đến chuyện này như một câu chuyện huyền thoại về vị vua rất tôn sùng đạo phật. Việc đó phần nào lý giải việc nhà vua rất mộ đạo, cho xây dựng rất nhiều chùa tháp. Nhận xét của các sử gia phong kiến về Lý Thần Tông, ngoài những ưu điểm và đóng góp của ông thì các vị đều thống nhất một quan điểm là nhà vua tôn sùng đạo phật.

Về vua Lý Thần Tông, trong Toàn Thư có ghi rõ về tính tình và đức độ của vua. Cho dù chỉ ở ngôi trong một thời gian ngắn (11 năm, 1128 - 1138), hưởng thọ có 23 tuổi (1116 - 1138) nhưng thời gian vị vua trẻ này trị vì đã đóng góp một phần quan trọng trong giai đoạn phát triển và hưng thịnh của triều Lý. Toàn Thư nhận xét:

Vua húy là “ Dương Hoán, cháu gọi Thánh Tông bằng ông, gọi Nhân Tông bằng bác, con của Sùng Hiền Hầu, do phu nhân họ Đỗ sinh ra. Mới hai tuổi được nuôi trong cung, lập làm Thái tử. Nhân Tông băng bèn lên ngôi báu…Khi vua mới lên ngôi,  hãy còn trẻ dại, đến khi lớn lên tư chất thông minh độ lượng, nên việc sửa sang chính sự, dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, nhiệm nhặt khúc nôi không gì sai lệch”(12).

Lúc mất, được tôn thụy  hiệu là Quảng Nhân Sùng Hiếu Văn Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Thần Tông.

Dưới thời vua Lý Thần Tông rất nhiều chùa chiền được xây dựng, nhà vua rất tôn sùng đạo phật.

Thời kỳ Lý Trần là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam, các vua nhà Lý cùng các hoàng hậu, quốc thích rất mộ đạo thường đóng góp công đức tu sửa đền đài, đúc chuông tô tượng, xây dựng những công trình rất quy mô. Tuy nhiên bên cạnh việc tôn sùng phật giáo người Việt còn có tục thờ Thánh. Có những ngôi chùa không chỉ đơn thuần thờ phật mà còn kết hợp với tín ngưỡng bản địa của người Việt như thờ Mẫu, thờ Thánh. Có chùa kết cấu khu thờ theo kiểu “Tiền Phật hậu Thánh”. Nghĩa là có thờ phật và thờ cả thánh, “khám thờ Thánh luôn đóng kín suốt năm không ai được vào và chỉ được mở trong một số ngày lễ hội nhất định. Các vị đều là những nhân thần, có nghĩa là những con người có thực, nhờ học tập, tu luyện đã có tài thần thông biến hóa, giúp dân giúp nước, được nhân dân một vùng  hay nhiều vùng thờ phụng…như những đức thánh, những vị thần thật sự” (13). Đây chính là kiểu kết cấu thờ của chùa Ông, Đức Thánh Từ Đạo Hạnh chính là một trong những vị như thế. Theo truyền thuyết về ngài ở vùng thờ chính là chùa Thầy, Hà Tây, ngài là người có công dạy dân ở đây cày cấy, dạy nghề múa rối nước (14), bốc thuốc chữa bệnh và làm bánh chè Lam. Còn theo nhân dân thôn Bình Lương thì ngài có công đem “một số cây thuốc dược liệu và cây má đề về phổ biến cho nhân dân trồng, từ đó nên xã Tân Quang có nghề truyền thống làm cây dược liệu” (15)

2. Thiền sư Từ Đạo Hạnh với Phật giáo thời Lý

Thiền sư Từ Đạo Hạnh (mất năm 1112) thuộc hết hệ thứ 12 của thiền phát Ti Ni Đa Lưu Chi. Vào năm 580 trước đó, Tì Ni Đa Lưu Chi đã sang Giao Châu ở chùa Pháp Vân và lập ra thiền phái đầu tiên của dòng thiền này ở nước

ta. Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi hình thành từ cuối thế kỷ VI phát triển và kéo dài cho đến cuối thời Lý, đầu thời Trần (thế kỷ XIII), gồm 19 thế hệ và 28 vị thiền sư: Khai sáng là Tì Ni Đa Lưu Chi (? - 594), đời 19 là Y. Sơn (? - 1213). Các thiền sư của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi đều là những trí thức lớn, giỏi cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, hiểu sâu Tam giáo (Phật, Đạo, Nho). Trong đó có những Thiền sư như Thiền sư Đỗ Pháp Thuận (915 - 990), thuộc thế hệ thứ 10 của Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, sống vào thời Tiền Lê nửa sau thế kỷ X. Ông có công giúp vua Lê Đại Hành hoạch định nhiều sách lược nội trì ngoại giao của đất nước. Hay như Thiền sư Vạn Hạnh (? - 1018), họ Nguyễn người châu Cổ Pháp (nay thuộc Đình Bảng, Tiên Sơn, Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ 12 Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, thông hiểu Tam giáo. Ông từng cố vấn cho Lê Đại Hành chống giặc Tống. Ông cũng là người góp phần quan trọng trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra triều Lý.

Kế tiếp các thiền sư của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, thiền sư Từ Đạo Hạnh đã có những đóng góp tích cực và hiệu quả cho đời sống xã hội thời bấy giờ (15).

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng dòng Thiền Tì Ni Đa Chi Lưu là dòng thiền chứa đựng trong mình những yếu tố của Mật giáo. Mật giáo bắt nguồn từ tư tưởng thâm sâu của Bát Nhã, đồng thời khởi nguyên của Mật giáo cũng ảnh hưởng từ những tín ngưỡng dân gian Ấn Độ. Khi tới nước ta thời bấy giờ dòng Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi cùng những yếu tố Mật giáo dễ dàng hòa hợp với những sinh hoạt tín ngưỡng và phong tục người Việt (17).

Trong bản Thần tích của thôn Bình Lương, xã Đình Loan, tổng Nghĩa Trai, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (18) còn ghi về đức Đại thánh Từ Đạo Hạnh như sau:

“ Đạo Hạnh muốn sang Tây Thiên Ấn Độ học phép lạ để chống lại Đại Điên. Ông cùng những người bạn là Minh Không, Giác Hải đi. Đến nước Kim Xỉ (tức Miến Điện), gặp đường xá hiểm trở muốn quay về thì gặp một ông lão chèo 1 con thuyền nhỏ, nhàn du trên sông. Mọi người đều hỏi: “ Đến Tây Thiên mất độ mấy ngày”. Lão ông trả lời: “ Đường núi hiểm trở không thể đi bộ được, lão có một con thuyền nhỏ, có thể giúp mọi người qua được, có một cây gậy chỉ thẳng đường sang Tây Thiên không xa lắm đâu”. Đạo Hạnh ở lại trông thuyền, Minh Không, Giác Hải lên bờ học được phép mầu nhiệm, xong xuôi hai người lập tức quay về. Đạo Hạnh giữ thuyền qua 3 ngày không thấy tin tức hai người bạn ra sao, lại thấy một bà lão trên bờ liền hỏi: “ Bà có thấy hai người bạn tìm học đạo qua đấy không?”. Bà lão đáp rằng: “ Hai người đó đã được ta dạy cho linh pháp, nay đắc đạo trở về”. Đạo Hạnh kể lại sự tình về việc 3 người bạn thân thiết cùng đi học đạo. Bà lão nghe nói liền sai Đạo Hạnh kéo 2 chiếc thuyền trở về nhà mình, rồi dạy cho Từ Đạo Hạnh phép màu nhiệm , lại dạy cho phép cắt đất và phép chú “ Đà la ni”…Còn theo tài liệu của Nguyễn Lang cho biết: “ Sùng Phạm thuộc thế hệ thứ 11 của thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Ông ở lại Ấn Độ 9 năm, sau khi về nước ông mở trường dạy tại chùa Pháp Vân, đệ tử theo học rất đông, trong đó có thiền sư Đạo Hạnh sau này rất nổi tiếng về phù chú Mật giáo (Đạo Hạnh cũng đã lên đường đi Ấn Độ, nhưng chỉ tới Miến Điện thì quay trở về, sau đi tìm thầy gặp được Thiền sư Sùng Phạm”.

Khi nhắc đến phép chú “ Đà la ni” của Kinh tổng trì Đà la ni (Dharani) là gọi tắt của Đại thừa phương quảng tổng trì kinh. Tổng trì Đà la ni là niệm tuệ lực có thể nắm được, chấp từ vô lượng Phật pháp, đây là kinh của Mật giáo. Khi Mật giáo phát triển mạnh ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI, người khai tổ của thiền phái này đã mang theo 2 yếu tố quan trọng nhất trong Phật giáo là Thiền và Mật. Khi vào nước ta ở những thế kỷ X, XII các thiền sư như Sùng Phạm dốc lòng tụng niệm hiểu được phép Tổng trì Đa la ni. Sư Vạn Hạnh (thế hệ thứ 12) hàng ngày tụng niệm kinh Tổng trì Đà la ni 18000 lần…Hàng ngày tụng niệm kinh Tổng trì Đà la ni đã tạo nên sức mạnh tinh thần và niềm tin tuyệt đối vào vô lượng Phật pháp của các thiền sư. Ngài là học trò của Sùng Phạm (thế hệ thứ 11 của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, là người kế tiếp các thiền sư Ma Ha, Vạn Hạnh, chúng ta có thế thấy đức Từ Đạo Hạnh vừa là một thiền sư lại vừa mang trong mình yếu tố của Mật giáo.

Có một lần Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã đọc một bài kệ mang tư tưởng Thiền rất sâu sắc, mang tính biện chứng vượt qua giới hạn của vấn đề hữu và không.

Nguyên văn bài kệ như sau:       Tác hữu trần sa hữu,

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt,

Vật trước hữu không không.

Bản dịch ra tiếng Việt đã được lưu truyền tại cửa Thiền và trong dân gian:

Có thì có tựa mảy may,

Không thì cả thế gian này cũng không.

Có không bóng nguyệt lòng sông,

Cả hai tuy vậy chẳng không chút nào.

Bài kệ của Từ Đạo Hạnh cùng với các bài kệ của các thiền sư Việt như Vạn Hạnh, Mãn Giác, Trí Huyền…tạo nên một bản sắc riêng biệt của Phật giáo Việt Nam.

Kết luận: Với việc được đúc tượng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở nhiều nơi trên miền Bắc nước ta vào thời Lý như ở chùa Thiên Phúc (chùa Thầy Sơn Tây), chùa Chiêu Thiền (chùa Láng Hà Nội), chùa Ông (chùa Bản Tịch Hưng Yên) cùng với việc rất nhiều thư tịch cổ ghi lại tiểu sử của Thiền sư, cho ta thấy tầm ảnh hưởng và vai trò của Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong thời Lý và cả sau này trong lịch sử Phật giáo Việt Nam và trong dân gian.

Các thiền sư của dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi thời Lý, Trần, trong đó có Thiền sư Từ Đạo Hạnh đã có những đóng góp tích cực cho đất nước, từ đó tạo nên nét riêng của Phật giáo Việt Nam.

(1): Bia hiện không còn ở chùa, chỉ còn thác bản hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôn

(2): Làng Láng (Tức Yên Lãng) là nơi nhà cũ của Thiền sư ở, cũng như chùa Thày ở Sơn Tây, tên chữ Hán là Thiên Phúc tự, nhưng nhân dân vẫn quen tôn xưng ngài là Thầy nên gọi là chùa Thầy.

(3): Vũ Ngọc Khánh, Đạo Thánh Việt Nam, Nxb.VH,.H 199tr72

(5): Ninh Bình tỉnh, Yên Khánh huyện, Yên Vệ xã thần tích, AE.a 4/32 (VHN)

(6): Như trên…

(7): Hà Tây tỉnh, Thạch Thất huyện, Canh Nậu xã thần tích, AE.a 10/18 (VHN)

(8): Thái Bình tỉnh, Trực Định huyện, Đông Trì xã thần tích, AE.a 5/9 (VHN)

(9): Toàn Thư (TT), Bản kỷ (BK), quyển (q)3, 17b

(10): Hang ấy nay ở chùa Thầy, gọi là hang Thánh Hóa, trong hang còn có vết chân của Từ Đạo Hạnh

(11): TT. Bk. q3, 18b

(12): TT. Bk. q3, 28b.

(13): Hà Văn Tấn: Chùa cổ Việt Nam, Nxb. KHXH, H,.1999, tr 24 - 25.

(14): Ngày nay ở chùa Thầy vẫn còn nhà Thủy đình dùng làm nơi biểu diễn rối nước trong mùa lễ hội, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam. Có thể coi Từ Đạo Hạnh là ông tổ nghề múa rối nước.

(15): Trích theo đơn đề nghị của nhân dân; đại diện chính quyền mặt trận, Ban bảo vệ di tích thôn Bình Lương 10/4/1995.

(16): Xem thêm Đại cương Triết học Phật giáo Việt Nam, Nguyễn Hùng Hậu. Nxb. KHXH. F1.2002

(17): Xem Việt Nam Phật giáo sử luận.Nguyễn Lang. Nxb Văn học. H.2008

(18): Bản thần tích mang ký hiệu Ea3 lưu tại viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Hà nội ngày 10.3.2012

http://vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/4771-thien-su-tu-dao-hanh-va-ngoi-chua-ong-o-thon-binh-luong-tan-quang-hung-yen.html

Thêm một văn bản về sự tích Thiền sư Từ Đạo Hạnh

(PGVN) Hai vị thiền sư theo sứ giả vào cung vua. Khi ấy các bậc danh sư trong thiên hạ ngồi la liệt, thấy Minh Không hèn mọn quê mùa thì xem thường không thèm đứng lên chào

Ghi chép về sự tích thiền sư Từ Đạo Hạnh đã được các nhà nghiên cứu thống kê khá đầy đủ trong các tư liệu và thư tịch cổ như Việt Điện u linh tậpLĩnh Nam chích quái lụcThiền uyển tập anh ngữ lụcĐại Việt sử lượcAn Nam chí lượcAn Nam chí nguyênViệt sử tiêu ánĐại Việt sử ký toàn thưĐại Nam nhất thống chíHưng Yên tỉnh Văn Lâm huyện Nghĩa Trai tổng Đình Loan xã Bình Lương thôn thần tíchThánh tổ đại pháp thiền sư, Hoàng Việt thông chí thiên tiên Phật Thánh lục... Tuy nhiên giữa các bản có những xuất nhập cần được xác định về mặt văn bản học. An Lãng Từ Thánh Phụ sự tích lược ký, Phụ biên Đạo Hạnh lai lịch: Ghi chép về sự tích Thánh Phụ Từ Vinh ở An Lãng, phụ chép lai lịch Từ Đạo Hạnh (dưới đây gọi tắt là Sự tích Thánh Phụ) có thể xem là một tư liệu xác thực bổ sung cho việc nghiên cứu những truyền thuyết sông Tô; sự tích thiền sư Từ Đạo Hạnh với lễ hội chùa Láng, chùa Thầy và Phật giáo Mật tông… trong dòng chảy văn hóa Thăng Long Hà Hội.[1]

Về tác giả và niên đại văn bản

Văn bản chép tay chữ Hán thể chân, gồm 19 trang, trang 8 dòng, dòng 7-9 chữ, lưỡng cước chú, không có tựa bạt. Ở trang cuối văn bản ghi: “Chư tế văn tịnh hồ sơ linh toái sự tích cụ hữu biệt bản phụng thủ tại Long Quang tự. Bính Tuất niên thu cửu nguyệt nhị thập ngũ nhật hạch chính. Nguyễn triều Quang lộc tự khanh (Mão khoa Tú tài) Nguyễn An Lan, tự Hải Văn bái soạn tịnh thư” (Các bản văn tế và các sự tích tản mạn trước đây đều được lưu giữ đầy đủ tại chùa Long Quang. Đối chiếu với chính bản ngày 25 tháng 9 mùa thu năm Bính Tuất. Quang lộc tự khanh triều Nguyễn, Tú tài Mão khoa Nguyễn An Lan, tự Hải Văn bái soạn và viết). Ở dưới nhan đề văn bản trang đầu tiên và ở dưới dòng ghi niên hiệu văn bản, dòng ghi tên tác giả ở trang cuối cùng đều có dấu khắc 4 chữ triện:
 
Tô Lịch Hải Văn
 
 
 
 
Hơn nữa, trong văn bản tuân thủ nghiêm ngặt việc kiêng húy chữ  (thì) đổi viết thành chữ 辰 (thìn) đời vua Thành Thái (1889-1907)[2]; hoặc như chữ 巴 (Ba) trong tên chùa 巴 陵 (Ba Lăng) ở xã Thượng An Quyết, huyện Từ Liêm xưa là do kiêng húy chữ 華 (Hoa) trong tên chùa là 華 陵 (Hoa Lăng) đổi viết thành 巴 (Ba)[3] ... Từ những cứ liệu trên có thể xác định, tác giả Sự tích Thánh Phụ là quan Quang lộc tự khanh triều Nguyễn - Tú tài Mão khoa Nguyễn An Lan, tự là Hải Văn[4]. Niên đại văn bản vào khoảng đời vua Thành Thái (1889-1907) trở về sau, và dòng niên hiệu ở cuối văn bản ghi là “Đối chiếu với chính bản ngày 25 tháng 9 mùa thu năm Bính Tuất”, nên văn bản được hoàn thành chính xác vào ngày 25/9/năm Bính Tuất 1946.

Nội dung thần tích gồm hai phần. Phần một về sự tích Thánh Phụ Từ Vinh ở An Lãng và Phần hai về lai lịch thiền sư Từ Đạo Hạnh. Dưới đây chúng tôi dịch theo nguyên bản Sự tích Thánh Phụ:
Đại vương họ Từ, tên húy là Huệ, tên lúc nhỏ là Đăng Vinh, người trại An Lãng huyện Vĩnh Thuận (tức nay là huyện Hoàn Long)[5], làm quan Chánh Đô sát viện[6] triều Lý. Lúc trẻ theo học thầy Đôn Minh (ở núi Câu Lậu huyện Thạch Thất). Vương bẩm tính thông tuệ dị thường nên được thầy dạy cho các phép thuật bí truyền kỳ lạ, tất cả đều thông hiểu, chuyên tâm nghiên cứu, ngày càng tinh vi, biến ảo khôn lường, phàm có thi đấu không gì là không hiệu nghiệm. Sau đó vương cáo biệt trở về nhà cũ (tức nay là chùa Nền là nơi sinh của Thánh)[7], truyền dạy riêng cho con trai là Đạo Hạnh.

Thời ấy vua triều Lý tôn sùng Phật giáo, vương bèn dự thi đỗ đầu, được tuyển chọn hậu bổ Chương Đài đạo pháp, hưởng ân sủng của vua ban cho ngày càng nhiều. Thời ấy các nhà vương công, thế tộc, bình dân ai có việc cầu đảo thì vương giúp lập đàn tràng, niệm chú bắt quyết, đều rất ứng nghiệm. Vương vốn có phép ảo hóa nên thường đem ra thí nghiệm, ngẫu nhiên thử cho nhà Diên Thành hầu xem, chẳng ngờ bị Lê Đại Điên ở xã An Quyết[8] cũng là tay kiệt xuất về phù chú, truyền phép thuật cho Diên Thành hầu giết chết vương (ngày mồng 10 tháng Giêng) rồi ném xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi đến bến Hồng Diên thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục Cựu, huyện Thanh Trì (tức nay là xứ Hàm Long)[9], khi ấy người làng trông thấy, bèn đón xác lên chôn ở bên sông (tức nay là Thánh lăng). Sau khi chôn cất xong, ban đêm thấy thần linh báo mộng, người làng bèn dựng miếu phụng thờ làm Bản cảnh Thành hoàng.

Năm Tân Mùi triều Lý[10], thần được sắc phong làm Bảo quốc Anh liệt Diệu cảm Chiêu ứng Thông huyền Hiển thánh Đại vương; lại cấp ruộng là 10 mẫu để cung cấp việc cúng tế giỗ chạp (mỗi giáp canh tác trồng trọt 6 sào ruộng. Ngày giỗ mồng 10 tháng Giêng hàng năm kính lễ mâm xôi, chuối tiêu). Mỗi dịp lễ tết được ân điển của triều đình phong tặng sắc văn, nhưng lâu ngày giấy cũ mất mát không thể ghi chép hết được. Một đạo sắc văn của triều Nguyễn phong làm Dực phù Trung hưng chi thần được cất giữ cẩn thận trong hòm vẽ rồng sơn son. Hàng năm khi gặp hạn hán, kính rước thánh giá cầu đảo thật là linh ứng. Trải mấy ngàn năm linh thần hiển hách như vẫn còn đây!
Vương phu nhân họ Tăng, tên húy là Loan. Chùa Ba Lăng ở xã An Quyết Thượng, huyện Từ Liêm[11]cúng tế bà, hàng năm ngày giỗ là mồng 10 tháng Tư.



                             Tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh

Con trai của vương tên húy là Lộ, tự là Đạo Hạnh, có tiên phong đạo cốt. Thuở niên thiếu thích giao du, hào hiệp phóng khoáng, chí lớn phi phàm, hành động cử chỉ không ai có thể lường được. Đêm thì mải miết đọc sách, ngày thì đá cầu thổi sáo đánh bạc, ham sự chơi bời. Cha thường trách con là lười nhác không nghiêm túc. Một đêm bí mật dòm qua khe cửa, thấy trong phòng ánh đèn rực rỡ, sách vở chồng chất, Đạo Hạnh thì gục xuống án mà ngủ nhưng tay vẫn không rời sách, cha ông vì thế không còn lo lắng nữa.

Năm sau Đạo Hạnh dự thi khoa Bạch Liên, đỗ Đệ nhất danh (triều Lý có kỳ thi riêng cho tăng đồ tức là khoa này). Nhưng sau đó cha gặp nạn bị giết chết, ông ngày đêm đau đớn xót thương, nung nấu mối thù không đội trời chung, chỉ lo tính việc báo thù cho cha mà chưa có cách nào. Một hôm rình lúc Đại Điên đi ra ngoài, Đạo Hạnh định lấy cây pháp trượng đánh theo cái bóng của y thì bỗng nghe trên trời có tiếng thét ngăn lại, thế là ông quăng gậy trở về, lòng càng thêm căm phẫn. Ông bèn rủ bạn là Minh Không và Giác Hải cùng đến Tây Thiên Ấn Độ để cầu phép lạ. Đường đi qua đất rợ Kim Sỉ[12] hiểm trở, muốn quay về thì bỗng thấy một cụ già chèo chiếc thuyền nhỏ nhàn du trên sông, ba người vái chào cụ già và hỏi đường đi đến Tây Thiên còn bao xa? Cụ già đáp rằng: “Đường núi cao hiểm trở không thể đi được, lão đây có một chiếc thuyền nhỏ có thể giúp đưa qua sông”, bèn lấy cây tiểu trượng chỉ thẳng về Tây quốc[13], trong chốc lát đã đến bờ, Minh Không và Giác Hải theo cụ già lên bờ, còn mình Đạo Hạnh ở lại giữ thuyền đến 3 ngày mà không thấy hai bạn trở lại, không biết tin tức ra sao. Bỗng nhiên thấy một bà lão, Đạo Hạnh hỏi rằng: “Cụ có nhìn thấy hai người đi cầu đạo pháp qua đây không?”. Bà lão đáp: “Hai người đã thụ phép lạ của ta và quay trở về rồi”. Ông bèn nói: “Đệ tử chúng con nghe tiếng tôn sư linh dị, phép thuật biến hóa ứng nghiệm vô cùng, vì thế từ nơi xa đến đây mong được thu nhận dạy bảo, xin muôn phần cảm tạ!”. Bà lão bèn dạy cho tất cả các phép thuật linh dị, Đạo Hạnh đều lĩnh hội sâu sắc, tự cảm thấy lục trí viên thông, đạo pháp đã thành, bèn cáo từ trở về nhà cũ ở An Lãng, ngày đêm tu luyện tìm cách báo thù. Một hôm tự mình đến cầu An Quyết sông Tô Lịch phóng cây trượng sắt ngược dòng nước chảy như tên bay, đến cầu Tây Dương[14] thì dừng lại. Mọi người nhìn thấy đều kinh ngạc báo cho Đại Điên biết. Đại Điên bèn đến bên sông đứng xem, cây trượng lập tức nảy lên đánh vào trán, Đại Điên chết ngay và rơi xuống nước, ông liền dùng phép niệm chú khiến cho xác Điên phóng theo sông Tô Lịch mà trôi đi.

Việc báo thù đã xong, oán thù xưa đã hết và lòng trần đã nguội, Đạo Hạnh bèn đến chùa Thiên Phúc ở núi Sài Sơn để tu luyện đạo pháp như trước kia. Từ đó pháp lực càng tăng, lòng thiền càng chín, có thể khiến cho các giống sơn cầm dã thú đều đến vây quanh hiền lành thuần phục, bấm đốt ngón tay cầu đảo mưa rơi, phun nước trị bệnh, không lúc nào không hiệu hiệm, nhân dân một vùng ngưỡng trông thần hiển linh phù trợ!

Ngày trước phóng xác Đại Điên thuận trôi theo dòng nước đến phủ Thanh Hoa Tràng An (tức nay là tỉnh Ninh Bình) có một khúc cong như hình cái mũ trang sức ở đầu ngựa, hồn của xác ấy liền nhập vào đứa trẻ 3 tuổi tự xưng tên là Giác Hoàng là con của vua. Khi ấy vua Lý Nhân Tông không có con nối ngôi, làm lễ cầu đảo nhưng không hiệu quả. Tháng 3 năm Ất Mùi[15] người ở phủ Thanh Hoa tâu trình lên rằng, ở bãi “mũ ngựa” bên bờ biển có một đứa trẻ 3 tuổi linh dị tự xưng là con vua, dung mạo thanh tú đẹp đẽ, thông hiểu mọi sự lý, phàm những việc trong cung vua không gì là không biết. Vua Nhân Tông bèn sai sứ giả tới xem quả đúng như lời nói, bèn đón về kinh sư, cho ở tại chùa Báo Thiên. Nhà vua thấy đứa trẻ thông minh nên rất mực yêu quý, muốn lập làm Hoàng Thái tử.

Triều thần ra sức khuyên can cho là không thể được và tâu vua rằng: “nếu đứa trẻ kia quả thực là linh dị, tất phải thác sinh ở nơi cung cấm thì sau mới lập được”. Nhà vua nghe theo, bèn mở đại hội 7 ngày đêm để làm phép thác thai tại chùa Báo Thiên. Từ Đạo Hạnh nghe tin bèn nói rằng: “Đứa trẻ kia là yêu ma quái dị, mê hoặc nhân tâm quá lắm! Huống hồ nó mà thác thai làm con vua thì nhà ta sao có thể bảo toàn?”. Nhân có chị gái là Từ nương làm thị nữ trong triều, cũng là người túc trực ở thai đàn, ông bèn bí mật đưa cho Từ nương mấy viên ấn phù và tấm bùa chú bảo đặt ở trên rèm. Hội đã qua 3 ngày đêm nhưng Giác Hoàng không thể đầu thai được và lại bị đau lưng, bèn tâu lên rằng: “Khắp biên giới trong nước đều có lưới sắt vây che, cửa khóa mấy tầng, cẩn mật kiên cố, mọi lối đi đều bị chẹn kín, tuy muốn thác thai mà sợ không được vậy”. Lời tâu chưa hết thì bỗng nhiên ngã lăn ra chết. Vua Nhân Tông rơi lệ thương tiếc, sai người kiểm soát trong ngoài đạo tràng tất cả mọi nơi, quả nhiên tìm được một dải mấy viên ấn phù ở trên rèm. Tra hỏi những người túc trực thì Từ nương tự nói rằng, có em trai là Từ mỗ bảo đặt lên, còn mình không hề biết gì về việc ấy. Nhà vua bèn cho gọi Đạo Hạnh đến lầu Hưng Thánh, hội họp các bá quan văn võ cùng bàn bạc.

Triều thần tâu rằng: “Bệ hạ đã không có con nối ngôi nên lập đàn cầu đứa trẻ ấy thác thai, thế mà dám càn rỡ tự ý giải chú, đáng phải luận trọng tội để tạ lỗi với thiên hạ”. Chỉ có hoàng thân Sùng Hiền hầu vốn biết ông là người đắc đạo chân nhân, bèn tâu rằng: “Đạo Hạnh lục trí thần thông, thiên hạ đã biết từ lâu.

Thiết nghĩ Giác Hoàng nếu có thần lực thì Đạo Hạnh làm sao có thể tiêu trừ được. Nay vì Giác Hoàng mà luận tội Đạo Hạnh thì có ích gì với quốc gia? Huống hồ Đạo Hạnh có thể bay trên không, đi qua biển, niệm chú làm cầu qua sông, dù là hoàn cảnh gian nan nguy hiểm thế nào cũng không hề gì. Vả lại bút lực của triều đình, chẳng gì bằng sự bao dung để mở rộng ân điển. Hoặc như những lúc cần hô phong hoán vũ gọi gió cầu mưa thì biết đâu chẳng giúp ích gì cho tương lai? Thần cúi xin được khoan xá!”. Nhà vua bằng lòng và Đạo Hạnh được tha về. Sùng Hiền hầu bèn mời ông về nhà mình để chúc mừng, ông nói rằng : “May được quan nhân cứu giúp mà mỗ tôi được bảo toàn. Một tấm chân tâm ngang tàng, thân này không biết lấy gì để báo đáp, nguyện xin được thác thai cung để cảm tạ ân đức lớn”, hầu nghe lời nói hợp ý liền gật đầu đồng ý.

Chỉ trong phút chốc, phu nhân của Sùng Hiền hầu ở trong buồng tự nhiên cảm thấy thân mình động đậy như có thai, bèn báo sự việc cho hầu. Hầu đã biết trước điều ấy nên bí mật nói với phu nhân rằng: “Nếu soi trong nước thấy hình thì chân nhân đã nhập vào thai cung của ta rồi, hãy thận trọng đừng sợ hãi nghi ngờ gì”. Đạo Hạnh lại nói với hầu rằng: “Nhân duyên kiếp trước được làm nghĩa cha con, nay đã đầu thai làm con nối dõi của hầu, xin từ biệt trở về”, và còn dặn thêm rằng: “Đến kỳ sinh nở tất phải đến báo cho biết trước!”. Đến tháng, phu nhân động sản khó sinh, gia nhân báo với hầu, hầu nói rằng: “Cần phải báo gấp cho tôn sư để biết điều tốt xấu”, bèn ruổi xe đến báo cho Đạo Hạnh.

Ông được tin liền nói với môn đồ rằng: “Nhân duyên kiếp trước chưa hết, còn phải thác sinh làm vua. Nếu thấy thân thể ta bị tổn hoại là thai cung của ta đã thâm nhập vào bùn đất (tức là niết bàn vậy)”. Các môn đồ nghe thế, ai cũng cảm động mà khóc. Ông đọc kệ xong bèn leo lên động, đập đầu vào tường đá, rồi dậm chân lên bàn đá nghiễm nhiên mà hóa (tức nay là động Thánh Hóa trên núi Sài Sơn, dấu vết vẫn còn), lúc ấy là giờ Ngọ ngày mồng bảy tháng ba năm Bính Thân đời Lý Đại Khánh năm thứ bảy[16]. Đạo Hạnh nhập vào cõi niết bàn và hóa, ra đời làm con của Sùng Hiền hầu, không dưỡng dục mà ngày càng lớn; không giáo huấn mà thông minh, dung nhan tuấn tú đẹp đẽ, tài hùng biện không ai sánh bằng.

Tháng Giêng năm Đinh Dậu[17] vua Lý Nhân Tông mộng thấy thần nhân đọc thơ rằng: “Dục tri vị lai quả, Vu kim kiến thánh hiền. Bất cầu nhi tự hoạch, Chỉ thị đãi tam niên” (Muốn biết kết quả tương lai, Đã thấy thánh hiền trước mắt. Không cầu mà tự có, Chỉ phải đợi ba năm). Trước đó nhà vua chưa có con nối ngôi, việc ban chiếu thư để cầu tìm con đồng tông thừa kế còn chưa quyết định. Đến năm Mậu Tuất[18] nhà vua tuổi tác đã hơi cao, bèn ban chiếu thư xuống cho con trai của các em ruột nhà vua là Sùng Hiền hầu, Thành Khánh hầu, Thành Chiêu hầu, Thành Quảng hầu và Thành Hưng hầu vào cung để giáo dục chọn người tài giỏi lập làm Hoàng Thái tử, ông[19] là người được lựa chọn vậy. Khi ấy ông mới lên ba tuổi, thông tuệ minh mẫn, nghe một biết mười, ứng đối tiến thoái không gì không hợp lòng thánh thượng. Vua Nhân Tông vô cùng yêu quý, đặt tên là Dương Hoán và lập làm Hoàng Thái tử, sai Thần Anh nguyên phi làm mẹ nuôi dưỡng. Năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên Phù nguyên niên[20] vua Nhân Tông băng hà, ông lên ngôi (13 tuổi), đổi niên hiệu là Thiên Thuận nguyên niên[21]. Đến năm Bính Thìn[22], thân mình ông tự nhiên mọc nanh vuốt rồi không lâu sau biến hình thành hổ, danh y khắp nơi đến chữa bệnh đều không khỏi. Minh Không và Giác Hải nghe tin ông mắc bệnh “kim sang”[23] thì thấy quả nhiên nghiệm với lời nói trước đây (ngày trước ông cùng với Minh Không và Giác Hải đi học tiên thuật đắc đạo, lúc trở về ông đi lên trước biến thành hình hổ để đùa bạn), bèn làm bài ca dao dạy cho trẻ nhỏ hát rằng: “Dục an thiên tử tật, Tu đắc Nguyễn Minh Không” (Muốn chữa bệnh nhà vua, phải tìm Nguyễn Minh Không). Triều thần bèn theo lời trẻ nhỏ hát, sai sứ giả đi tìm. Nghe nói hai vị sư Minh Không và Giác Hải trụ trì ở chùa Liêu Thủy, sứ giả cùng binh lính 16 người chèo thuyền đến chùa bái kiến, thiền sư bèn lấy một cái nồi nhỏ nấu cơm và bảo họ rằng: “Bần tăng có ít cơm ăn tạm!”. Quân lính ăn đều no bụng nhưng không thể hết được. Ăn xong thì hai vị thiền sư theo sứ giả xuống thuyền, Minh Không nói với họ rằng: “Mọi người hãy tạm đi ngủ và nghỉ ngơi, đợi nước triều dâng thì khởi hành lên kinh”. Thế là mọi người đều xuống thuyền ngủ, thuyền đi như bay, ngày hôm sau đã đến bến Đông, thiền sư bèn gọi mọi người dậy, đã nhìn thấy chùa Báo Thiên, ai nấy đều kinh phục. Hai vị thiền sư theo sứ giả vào cung vua. Khi ấy các bậc danh sư trong thiên hạ ngồi la liệt, thấy Minh Không hèn mọn quê mùa thì xem thường không thèm đứng lên chào. Minh Không bèn lấy ở trong túi ra một chiếc đinh sắt dài năm tấc rồi dùng tay đóng vào cột điện, đinh ngập sâu vào quá nửa, ông nói với mọi người rằng: “Ai có thể nhổ được chiếc đinh này thì chữa được bệnh cho vua”. Nói như vậy mấy lần, không có ai dám nhổ. Minh Không bèn dùng hai ngón tay phải mà nhổ, đinh theo tay bật ra, bèn bảo lấy cái vạc lớn, 12 hũ dầu, 100 cái kim và 1 cành hòe, đốt lửa nấu, rồi sai khiêng ngọc giá đến đàn. Minh Không bảo Giác Hải đốt lửa suốt mấy ngày liền, bèn thò tay vào trong vạc dầu đang sôi sùng sục lấy ra đủ 100 cái kim. Giác Hải lại bảo Minh Không làm phép, lấy cành hòe nhúng vào vạc dầu rồi rắc vảy lên ngọc thể nhà vua, quát to rằng: “Bậc thiên tử tôn quý cớ sao mà lo buồn phát bệnh như vậy?”. Thế là tất cả lông lá, nanh vuốt đều rụng hết, nhà vua lại ở ngôi đế vị như xưa. Khi đó Minh Không có bài kệ rằng: “Kỳ lân đồ hậu mạt, Nguyệt vọng đáo trung thiên” (Kỳ lân dự liệu về hậu thế, Mặt trăng và mặt trời gặp nhau ở giữa trời)[24]. Mọi người không ai hiểu lời nói đó. Đến ngày 26 tháng 9 năm Canh Thân[25] nhà vua thăng hà, miếu hiệu Thần Tông tức là hậu thân của Đạo Hạnh vậy. Ngày ông thăng hà thì nhà cũ ở chùa Sài Sơn linh khí chấn động[26], dân làng thấy thế kinh sợ lạ lùng đem việc tâu lên, vua nối ngôi liền sai triều quan đến tế lễ, trùng tu miếu vũ, ban phong miếu hiệu, bốn mùa cúng tế. Hàng năm mồng 7 tháng 3 là ngày sinh nhật tiền thân[27], có lệ phụng nghênh thánh giá đến xứ Hương Sơn quán để lạy chầu Thánh tổ. Cũng như chùa Chiêu Thiền ở xã An Lãng huyện Từ Liêm phụng nghênh thánh giá đến lạy chầu Thánh tổ ở Thánh am xứ Hàm Long, thôn Thượng Đình (nếu gặp năm hạn hán thì rước thánh giá đến chầu lạy Thánh tổ cầu đảo vô cùng linh ứng). Trai gái bốn phương cùng hân hoan dự hội, đây là lễ hội lớn của một vùng vậy! [28]




Tác giả: Nguyễn Thị Ngân và Nguyễn Thiên Lý
Bài đã đăng trên: Tạp chí Văn hóa Nghệ An


[1]
 Nguyên bản 安 朗 徐 聖 父 事 跡 略 記,附 編 道 行 來 歷 (An Lãng Từ Thánh Phụ sự tích lược ký, Phụ biên Đạo Hạnh lai lịch) hiện được lưu giữ trong dòng họ nhà văn Nguyễn Tuân (1910-1987). Qua PGS. Phạm Tú Châu (Viện Văn học) giới thiệu và xin ý kiến đồng ý của con cháu dòng họ nhà văn, chúng tôi gửi bản thần tích này tới Hội nghị Thông báo Hán Nôm học năm 2012. Nhân đây chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc.
 
[2] Xem Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ Húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn Hóa, 1997.
[3] Chùa Hoa Lăng ở xã Thượng An Quyết sau đổi là xã An Hòa thuộc quận Cầu Giấy, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
[4] Cụ Tú Nguyễn An Lan, tự Hải Văn là phụ thân của nhà văn Nguyễn Tuân (1910-1987). Quang lộc tự khanh là chức trưởng quan của Quang lộc tự chuyên lo việc cỗ bàn, cung cấp lễ phẩm cho các ngày tế lễ, yến ẩm của triều đình. Sự tích Thánh Phụ (Sự tích về Thánh Phụ Từ Vinh ở An Lãng) do cụ Tú Nguyễn An Lan biên soạn ghi chép về sự tích vị Bản cảnh Thành hoàng thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục Cựu (tên Nôm là làng Mọc), huyện Thanh Trì xưa, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội.
[5] Phần trong ngoặc đơn trong bản dịch này đều là nguyên chú của tác giả. Trại An Lãng huyện Vĩnh Thuận, nay là làng Láng, phường Láng Thượng, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
[6] Đô sát viện là cơ quan tối cao giữ việc giám sát trăm quan, biện minh oan khuất, phàm có án kiện quan trọng thì cùng với Hình bộ và Đại lý tự hội thẩm.
[7] Chùa Nền ở số 1160 Đường Láng Hà Nội.
[8] Nay là thôn Tiền, phường Dịch Vọng, đường Nguyễn Khánh Toàn, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
[9] Nay là phường Thượng Đình quận Thanh Xuân, T.P. Hà Nội.
[10] Tức năm 1211 đời Lý Huệ Tông (1211-1224).
[11] Nay thuộc quận Cầu Giấy, T.P. Hà Nội.
[12] Theo Từ nguyên (Dân Quốc nhị thập bát niên 1939), tục của tộc người cổ dùng vàng để trang sức răng gọi là man Kim Sỉ, nay là huyện lị Vĩnh Xương Vân Nam Trung Quốc.
[13] Tây quốc là chỉ đất phát nguyên của Phật giáo.
[14] Nay là khu vực Cầu Giấy Hà Nội.
[15] Tức năm 1115 đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128).
[16] Tức là năm 1116 đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127).
[17] Tức năm 1117 đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128).
[18] Tức năm 1118 đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128).
[19] Tức chỉ Đạo Hạnh lúc này đã đầu thai làm con của Sùng Hiền hầu.
[20] Niên hiệu Thiên Phù Khánh Thọ là năm 1127 đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128).
[21] Niên hiệu Thiên Thuận đời vua Lý Thần Tông (1128-1132).
[22] Tức năm 1136 đời vua Lý Thần Tông (1128-1138).
[23] “Kim sang” theo cách gọi của đông y là vết thương do dao kiếm.
[24] Kỳ và lân là hai loại thú thần trong truyền thuyết được coi là điềm lành.
[25] Tức năm 1140 đời vua Lý Anh Tông (1138-1175).
[26] Chùa Thầy ở chân núi Sài Sơn huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây (cũ), nay là xã Sài Sơn huyện Quốc Oai Hà Nội là nơi tu hành của thiền sư Từ Đạo Hạnh, và nơi ngài hóa gọi là động Thánh Hóa trên núi Sài Sơn.
[27] Tiền thân là thuật ngữ Phật giáo, chỉ thân thế kiếp trước.
[28] Chùa Láng ở phố Chùa Láng phường Láng Thượng quận Đống Đa, T.P. Hà Nội. Chùa Láng còn gọi là chùa Cả, tên chữ là Chiêu Thiền tự, do vua Lý Anh Tông là con của Lý Thần Tông xây dựng để thờ vua cha và tiền thân của người là thiền sư Từ Đạo Hạnh. Lễ hội chùa Láng được tổ chức vào ngày mồng 7 tháng 3 là ngày hóa và ngày sinh của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày: Ngày mồng 5 tháng 3 rước thánh đến chùa Nền để Thánh thăm lại nơi sinh; ngày mồng 6 rước kiệu đến chùa Tam Huyền ở làng Mọc để Thánh thăm cha; tối mồng 6 rước kiệu Thánh trong chùa Cả ra nhà Bát giác ở sân để Thánh xem lễ; sáng mồng 7 rước kiệu ra cửa Tam quan để chờ các làng như Nhược Công, Mọc nhập cuộc rước Thánh “Đấu thần” với sư Đại Điên ở chùa Duệ Tú; sau đó tới chùa Hoa Lăng ở Cầu Giấy để Thánh thăm mẹ, rồi hoàn cung.

Nguồn :

 

http://phatgiao.org.vn/tu-lieu/201301/Them-mot-van-ban-ve-su-tich-Thien-su-Tu-dao-Hanh-9147/?fb_action_ids=165101193671508&fb_action_types=og.likes&fb_source=timeline_og&action_object_map={%22165101193671508%22%3A171547829687101}&action_type_map={%22165101193671508%22%3A%22og.likes%22}&action_ref_map=[]


Các tin khác
  • Hưng Yên: Chùa Ông Bình Lương ;Văn Lâm mở hội truyền thống.
  • Hưng Yên: ( Chùa Đống Cao;An Viên;Tiên Lữ )Chư Tăng,Ni huyện Tiên Lữ cử hành Lễ BỐ TÁT cuối năm Nhâm Thìn
  • Hưng Yên: Chùa Bùi Long ;xã Thọ Vinh ;huyện Kim Động khánh thành
  • Hưng Yên: Lễ khánh thành Tam Quan...
  • Chùa Nho Lâm;huyện Kim Động ...
  • Chùa Phán Thủy ( Báo Ân Tự )
  • Chùa Tứ Mỹ
  • Chùa Thứa (chợ Thứa ) Mỹ Hào
  • Chùa Phố ( Bắc Hoà Tự )
  • Chùa Chuông ( Kim Chung Tự )
  • Chùa Nôm và 122 bức tượng đất bí ẩn chùa Nôm
  •       
    Video
       
        HY:diễu hành xe hoa Kính
        mừng  Đại Lễ   Phật Đản





    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Những thai nhi vô tội
    Tin nổi bật
    LỄ QUY Y TAM BẢO TẠI CHÙA PHÚC QUANG .
    NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
    XEM NGÀYvà LỄ BÁI,XUẤT HÀNH XUÂN BÍNH THÂN...
    NHÌN NHẬN , NHẬN ĐỊNH, DƯ ĐOÁN
    “CHÂN THỰC BẤT HƯ”
    BÁO DÂN TRÍ XÚC PHẠM TÔN GIÁO ( ĐẠO PHẬT - NGÔI CHÙA )
    BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
    Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
    Nghiêm trì giới luật
    LỜI TỰ SỰ THÀNH TÂM NHẤT .
    Ngày trở về an cư bên Sư Phụ...
    Hưng Yên: Lễ khai giảng khóa tu mùa hè lần thứ 05
    Đức Pháp chủ quang lâm lễ khai pháp hạ trường PG tỉnh Hưng Yên
    Hưng Yên: Lễ khai khóa ACKH và cầu nguyện cho biển Đông
    HÌNH ẢNH và QUANG CẢNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ....
    MỘT SỰ BẤT TÍN THÌ VẠN SỰ KHÔNG TIN ....
    “BIẾT THÌ THƯA THỚT,KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE…”
    Xuân về : lại nghĩ thân cò cũng như thân chim
    NGÔI CHÙA ĐI TRƯỚC VỀ SAU ( Khánh thành ngôi Tổ đường )`
    Người mẹ Liệt sĩ bị dồn vào chân tường...
    HOẰNG PHÁP HAY ỨNG PHÓ ĐẠO TRÀNG ĐỀU NÊN GIỮ GÌN CÁI GỐC
    Ý nghĩa ngày Rằm tháng Bảy, mùa báo hiếu của người con Phật
    SỰ GIA HỘ CỦA ĐỨC PHẬT
    Chuyện cảm động về 'thiên thần' bé nhỏ nơi cửa Phật
    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
    Vì sao cần niệm Phật?
    Hưng Yên: TT. Thích Chân Quang thuyết giảng tại chùa Bụt Mọc
    Hưng Yên: TT Thích Chân Quang chia sẻ Phật Pháp tại huyện Tiên Lữ
    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Phân phát trái phép ấn phẩm văn hóa để truyền giáo
    Từ giờ đầu “khai bút” năm Nhâm Thìn đến ngày thứ 363 tiếp nối…
    Bình giải tập tục cúng sao hạn
    Hưng Yên : Hơn 100 người quy y Tam bảo ở chùa Mỹ Xá
    Vì sao lại niệm Nam mô A-di-đà Phật?
    Phật tử Park Geun hye đắc cử Tổng thống Hàn Quốc
    Đại Lễ Hoàn Nguyện tại Lâm Tỳ Ni thật mãn nguyện
    Một nghi thức PG được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể
    Ý nghĩa chữ Vạn ở trước ngực Tượng Phật ...
    Sự quan trọng của nếp sống Lục hoà đối với người học Phật
    Ý nghĩa lục hòa và chuyện quả cam
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Lễ cầu siêu tại Đền thờ bờ Bắc sông Thạch Hãn ....
    NHỚ VỀ LỤC HÒA PHẢI TỰ CHỈNH ĐỐN...
    Phật giáo với việc cai trị đất nước
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    NÓI THẬT "trật lỗ tai"
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Chùa Phúc Quang ( Phúc Quang Tự )
    Những thai nhi vô tội
    * TÂM THƯ THỈNH NGUYỆN
    Thực hư chuyện cậu bé 'đầu thai' ở Vụ Bản
    Ý nghĩa rằm tháng bảy
    Nhà ngoại cảm ĐOÀN VIỆT TIẾN - giải mã thông tin bằng năng lượng cảm xạ
    Cõi âm và khả năng ngoại cảm
    Đừng đánh mất các truyền thống tốt đẹp ngày Tết
    Ban Văn hóa TW làm việc với THPG Hưng Yên
    Quang cáo