Đức Phật ra đời vì an lạc, hạnh phúc cho số đông, vì lợi ích, an vui cho chư thiên và loài người. The Buddha appeared in the world for the happiness and welfare of many, for the benefits and happiess of gods and men. 为人天之利乐故,佛出现世间

 
Danh mục chính
Hỗ trợ online
Lượt truy cập
  Số người online:20
  Tổng truy cập: 2172067
Liên kết website
 
ALbum

  Tam tạng Kinh điển
Kinh Hiền Nhân

Kinh Hiền Nhân

Cập nhật ngày: 01/07/2013 5:57:00 AM

Kinh Hiền nhân

Lúc bấy giờ, Đức Phật lưu trú tại nước Xá-vệ với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.

Cư sĩ Tu-đạt ngày ngày thân hành phụng sự Phật. Ông vâng lời Ngài giữ năm giới: không sát hại, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Vốn là một người hiểu đạo đúng đắn, ông luôn phát tâm bố thí, cứu giúp kẻ bần cùng khốn khổ, nên người ta tặng ông tên Cấp Cô Độc, nghĩa là nuôi giúp những kẻ cô đơn, khốn cùng.

Cư sĩ muốn lập một Tịnh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Ông đi nhiều nơi tìm đất cuối cùng chỉ có khu vườn của Thái tử Kỳ-đà là vừa ý ông. Khu vườn ấy bằng phẳng, rộng hơn 80 khoảnh, cách thành không xa mấy. Trong vườn trồng nhiều cây có quả, đây đó đều có suối chảy, ao tắm rất tiện lợi, sạch sẽ, không có kiến bọ muỗi ruồi.

Nhận thấy chỗ đất ấy có thể lập Tinh xá, cư sĩ Tu-đạt liền đến năn nỉ Thái tử Kỳ-đà để mua lại. Thái tử mỉm cười đáp:

- Nếu ông có thể đem vàng ròng lót cho kín, không chừa một khoảnh đất nào trong vườn, thì với giá ấy tôi sẽ bán khu vườn này cho ông.

Cư sĩ Tu-đạt vui vẻ gật đầu, rồi sai người đem voi chở vàng trong kho của mình ra và cùng nhau lát, trong giây phút đã hơn 40 khoảnh đất.

Thái Tử Kỳ-đà vừa ngạc nhiên vừa thán phục, đứng nhìn ngẫm nghĩ: "Chắc Đức Phật có đạo lý gì cao thâm lắm nên mới khiến cho ông này trọng đạo khinh tài đến thế.”

Thái Tử phát tâm nói rằng:

- Thôi đủ rồi, đừng chở vàng tới nữa. Bây giờ thì thế này: Vườn đất thuộc về ông, ông lập Tịnh Xá cúng Phật. Còn tôi thì cúng cho Đức Phật và Tăng đoàn tất cả những cây trái trong vườn.

Cư sĩ ưng thuận. Hai người đồng lòng cùng lập tịnh xá và đồng đi rước Phật dâng cả vườn nhà cây trái cho Ngài.

Đức Phật nhận lời, đến Tịnh xá cư trú với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.

Từ đó về sau, chỗ ấy gọi là Kỳ Thọ Cấp Cô ĐộcViên.

Lúc ấy, đức vua trong nước là Ty-tiên-nặc rất sùng kính đạo pháp. Ông trị nước an dân theo lời Phật dạy, nhờ đó, lúa thóc được mùa, bá tánh lạc nghiệp, đạo Phật ảnh hưởng sâu rộng. Sự việc đó đã làm cho các hàng ngoại đạo, tà giáo ganh ghét Đức Phật. Họ bày mưu hại Đức Phật bằng cách giết thiếu nữ Tôn-đà-ly, con cháu họ, lén chôn trong khuôn viên Tịnh xá rồi phao tin vu khống Đức Phật và giáo đoàn đã giết người vô tội, hòng làm giảm ảnh hưởng của Đức Phật. Nhưng việc ác đã hại kẻ ác.

Sau khi rõ âm mưu của ngoại đạo, vua với quần thần đến đảnh lễ Đức Phật. Lúc bấy giờ cư sĩ Cấp Cô Độc cùng các vị thành tín và nhân dân trong nước đều đến hầu Phật, làm lễ xong, mỗi người đều ngồi qua một bên.

Nhà vua đứng dậy, chắp tay thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn, khi nghe lời vu oan của ngoại đạo ai cũng lấy làm ngạc nhiên cả. Thực chỉ có Phật là chân thật hoàn toàn, thanh tịnh không lường. Bạch Ngài! song chẳng hay vì nhân duyên gì mà xảy ra việc không hay như thế !

Đức Phật chậm rãi bảo vua Ty-tiên-nặc:

- Này đại vương ! Con người sở dĩ có tính vu khống là do lòng tham lam, tật đố mà ra. Song việc ấy trước kia đã từng xảy ra, chứ chẳng phải mới đây mà thôi.

Vua cúi đầu:

- Bạch đức Thế Tôn, chúng con muốn nghe việc của kiếp đó.

Nhân đó, Đức Phật dạy:

- Này Đại vương ! Ta đã từng trải qua bao nhiêu vô số kiếp tu hành, vì đạo Bồ-tát, đem lòng từ bi độ thoát cho mọi loài.

-Thời xưa có một nước tên Bồ-lân-nại, nhân dân đông đúc, sự sinh hoạt thật là phồn thịnh.

Trong nước có một người Phạm-chí tên là Cù-đàm, tài trí thông minh bậc nhất. Ông có ba người con, đứa con út có một thân hình đoan chính, đẹp đẽ không ai bằng, tên là Hiền Nhân.

Hiền Nhân thuở nhỏ rất chăm chỉ học hành. Lớn lên, tài, nghệ hơn người, làu thông kinh sử, và có tiết hạnh, giới đức đặc biệt. Hiền Nhân tánh từ bi, lại rõ việc tai nạn họa phúc, bào chế thuốc men, không gì không biết.

Sau khi ông Cù-đàm qua đời, hai người anh của Hiền Nhân trở nên tham lam, ích kỷ và ganh tỵ. Hiền Nhân xin phép mẹ xuất gia, học đạo, chẳng bao lâu đã giác ngộ tự tâm. Người lại trừ được năm món dục lạc: Mắt không còn tham đắm hình sắc trần gian. Tai không còn tham đắm âm thanh vi diệu. Mũi không nhiễm mùi hương ngây ngất. Lưỡi không ưa thích vị ngon, và Thân không còn ưa lụa là và cảm giác êm dịu.

Hiền Nhân hay dùng trí huệ phương tiện tuỳ thuận giáo hóa thiên hạ, khuyên người làm mười điều lành, thảo thuận cha mẹ, vâng thờ sư trưởng. Những ai lòng nghi hoặc, Hiền Nhân đều giáo hóa họ tư tưởng đạo đức. Người dạy họ rằng: Có sanh ắt có tử, làm lành gặp lành, làm dữ mắc họa, tu đạo đắc đạo, là lẽ dĩ nhiên. Thấy người nào bị nguy ách, Hiền Nhân độ cho thoát khỏi. Ai bị bệnh tật thì Người ban cho thuốc thang. Ai đói khổ thì Người ban cho vật thực. Ở đâu có nước lụt, cháy nhà, nắng hạn nguy hiểm, nếu có Hiền Nhân đến đều được bình an. Bao nhiêu độc hại đều bị tiêu diệt. Khi bấy giờ có một nước lớn, nhân dân giàu có đông đúc, yên vui. Vua nước ấy tên là Lâm Đạt thường giao trách nhiệm triều chính cho bốn quan cận thần. Nhưng bốn quan cận thần ấy chuyên làm những việc tà siểm, dâm ô, gian dối và bóc lột đủ điều. Dân chúng thiệt hại, ta thán mà vua không hề hay biết. Hiền Nhân thấy thế lấy làm thương xót, người cầm bát ra ngoài thành ở trọ lại nhà của đạo nhân Sa-đà bảy ngày. Qua ngày thứ tám Hiền Nhân mới vào thành khất thực.

Khi đó nhà vua đứng trên thành trông thấy Hiền Nhân tuổi còn trẻ mà đã có cái phong vị đoan chánh ung dung, dáng đi có vẻ phi thường liền sanh lòng kính mến. Ngài liền bước xuống và đến thưa hỏi:

- Xin đạo nhân lưu trú tại đây. Tôi có Tịnh xá ngoài thành, đạo nhân nên ở lại trong ấy. Tôi sẽ xin cung cấp những thứ cần dùng.

Hiền Nhân nhận lời. Vua từ giã về cung bảo Phu Nhân:

- Vị đạo sĩ ấy không phải người thường, sáng mai Ngài nên đến ra mắt Ta.

Phu Nhân lấy làm vui vẻ và con chó của vua Tân-kỳ nằm dưới gầm giường cũng mừng rỡ ngoắc đuôi.

Sáng hôm sau, Hiền Nhân vào cung, nhà vua và Phu nhân ra nghênh tiếp làm lễ thỉnh Ngài thọ thực.

Thọ thực xong vua mời Ngài ra tinh xá. Hiền Nhân tiện dịp nói cho vua hiểu phép tắc trị nước an dân. Nhà vua vui mừng quá, nhân đó thỉnh Người phụ lực cùng bốn vị đại thần chung lo việc nước, Hiền Nhân nhận lời.

Bốn quan cận thần vốn quen ăn chơi, khiếp nhược, không hết lòng với quốc gia, chỉ biết tham ô bóc lột dân chúng. Một ông thường nói "Sau khi người ta chết, thần hồn sẽ diệt mất không sinh trở lại nữa.” Ông thứ hai chủ trương: "Nghèo, giàu, vui, khổ cũng đều do trời định.” Một ông lại nói: "Làm lành không được phúc cũng như làm ác không có tai họa gì.” Ông thứ tư lại ỷ mình biết xem tinh tú. Không ông nào lo việc triều chính, ông nào cũng tham lam siểm nịnh. Còn Hiền Nhân từ khi giúp nước, làm nhiều điều lợi ích. Hiền Nhân rất thông minh, tài cao, sức mạnh lại có lòng nhân nghĩa, cung kính. Hiền Nhân ít nói mà hễ nói gì thì miệng luôn nở nụ cười nên trong khi đối đãi người, không làm phật ý một ai.

Người thật là trong sạch và thiểu dục, không tham sắc, giản dị; phép trị dân không làm phiền ai. Người lại biết được cả tai hoạ có thể xảy ra, cứu người khỏi chết, thương dân như con. Người lấy đạo đức dạy dân, khuyên họ không nên say sưa săn bắn, chài lưới chim cá và loài dã thú, không sát sinh, trộm cắp, dâm ô dối trá, dèm siểm, hỗn ẩu, gian nịnh, ganh ghét, gây sự, kình lộn, giận dữ, yêu nghiệt và nghi ngờ.

Bấy giờ nhân dân trong nước nhờ Hiền Nhân giáo hóa đều trở nên hiền lương. Từ khi Hiền Nhân giúp vua, việc triều chính, nước nhà yên ổn, mưa thuận gió hòa, mùa màng sung túc, các quan đều thừa hành pháp luật không dám nhiễu hại nhân dân nữa.

Cũng vì thế nên bốn quan cận thần đem lòng ganh ghét, đố kị, và mưu hại Hiền Nhân.

Họ hùn rất nhiều vàng bạc mua lòng Hoàng hậu và bày cách cho Hoàng hậu đặt điều vu khống lên vua rằng Hiền Nhân có ý tư thông với bà và âm mưu sát hại vua để đoạt ngôi. Vì vốn thương Hoàng hậu, vua đã cả tin và lập kế với hoàng hậu xua đuổi Hiền Nhân bằng thái độ và cách cư xử khinh miệt.

Ngày hôm sau Hiền Nhân vào cung thì con chó chạy ra gầm gừ sủa. Hiền Nhân thấy Phu Nhân chỉ chắp tay chào sơ sài và thấy cách bày biện có khác hơn mọi ngày thì biết ngay là có mưu kế. Người suy nghĩ:

- Mình không muốn hại ai mà nay người ta trở lại hại mình như vậy chi bằng phải lánh mặt vào núi tu hành là hơn. Người oán mình tất sau sẽ sinh thù lớn, ta không nên khinh thường.

Nghĩ xong, Hiền Nhân nói lời cảm hứng như sau:

- Ở đời có thịnh ắt có suy, có hội họp ắt có ly tán, lành dữ vô thường, họa phúc tự mình chuốc lấy. Kết bạn mà không bền chắc thì không nên thân. Thân mà không có chừng mực, thân lâu sẽ sanh khinh lờn. Ví như múc nước giếng, múc sâu thì nổi cặn. Gần người hiền được thêm trí huệ, ở với kẻ dốt càng thêm ngu si. Thấy nhau thường thì hay khinh lờn, xa nhau quá thì thành thờ ơ. Do đó, giao tiếp qua lại với người lành nên có chừng mực, thân mà có cung kính thì thân lâu càng có hậu. Giao thiệp với kẻ bất lương, họ ăn ở không thực thà, lời ngon tiếng ngọt chẳng qua là để lợi dụng mình, dù cho có kết hợp, cũng không tin. Vua lấy lễ độ tiếp tôi, tôi cung kính đáp lại. Nay vua đối đãi khinh dễ thì tôi phải lánh xa. Thân yêu nhau rồi có sự giận ghét nhau, khi thương thì muốn nhờ cậy, lúc ghét thì chẳng muốn gần. Lấy sự cung kính nhau để làm thân thiện, lấy sự răn dạy lẫn nhau để tránh xa điều ác. Mà nay có người chẳng phân biệt cái nào là ác, cái nào là thiện, ấy chẳng phải là đạo an thân. Người không có lỗi với mình, thì mình không nên bày chuyện vu oan cho họ, Người muốn xa ta thì ta không nên miễn cưỡng gần họ. Sự thương đã xa lìa thì không nên nghĩ đến.

Con chim đậu gãy nhánh còn biết đi tìm nhánh khác để đậu, huống chi làm người qua lại có pháp độ, hà tất phải thủ thường. Cành mục ta không nên vịn nắm; người loạn ý, ta chẳng nên phạm nhằm họ. Người muốn đem việc xấu cho nhau, dù thấy nhau cũng không vui, ta xướng mà người không phụ họa theo, nên biết đó là người ở bạc. Người muốn đem việc lành cho nhau thì dù chậm dù gấp cũng đi; đem lời trung chính nhắc nhủ nhau, thì đủ biết người ấy là người có hậu. Mà nay lại có người không chịu gần người hiền, chẳng lánh xa kẻ ác, trước kính sau khinh, không phân biệt kẻ hiền người ngu, thì nếu ta không đi, còn đợi đến bao giờ mới đi ! Phu nhân ban đầu lễ lạy mà nay chỉ vòng tay, nếu ta không đi để đợi chừng mắng đuổi rồi mới đi hay sao? Ban đầu thì giường vàng nay giường tre, ban đầu đũa ngà chén ngọc, mà nay chén sành đũa tre, ban đầu thì cơm ngon canh ngọt, mà nay cơm hẩm gạo tấm, vậy nếu ta không đi, đợi đến cơm đổ đất mới đi hay sao? Bạn trí thức gặp nhau như chủ đãi khách, đêm đầu thì quí trọng như vàng, đêm thứ nhì thì làm lơ như bạc, đêm thứ ba lạnh ngắt như đồng, chứng cớ rõ ràng như vậy nếu ta không đi đợi đến bao giờ mới đi?

Vua vừa nghe vừa hổ thẹn, cảm động thưa:

- Nước trẫm mà được giàu có, thịnh vượng là nhờ Ngài. Nếu Ngài bỏ đi, sau này nước nhà sẽ nguy khốn.

Hiền Nhân từ tốn đáp:

- Trong thiên hạ có bốn điều tự hoại: Một là cây có nhiều hoa trái nặng sẽ gãy nhánh; hai là rắn ngậm nọc độc, nọc độc sẽ trở lại hại nó; ba là kẻ làm tôi không hiền thì sẽ hại nước nhà; bốn là người làm việc bất thiện thì khi chết sẽ đọa vào địa ngục. Vậy nên trong kinh dạy: "Sự độc ác do tâm sinh ra và sẽ trở lại tự hại tâm mình cũng như sắt sinh ra sét, chất sét ấy trở lại tiêu hình của sắt.”

Hiền Nhân dạy tiếp:

- Bạn có bốn thứ: Một là kết bạn như hoa, hai là kết bạn như cân, ba là kết bạn như núi, bốn là kết bạn như đất.

Sao gọi là kết bạn như hoa? Khi bông hoa còn tươi tốt thì giắt trên đầu, khô héo rồi bỏ đi. Bạn loại này cũng thế; hễ thấy giàu sang thì xu phụ theo, thấy nghèo nàn lại làm lơ.

Sao gọi là kết bạn như cân? Khi để vật nặng thì đầu gục xuống, vật nhẹ thì đầu vổng lên, có qua lại thì cung kính nhau, không qua lại thì khi dễ nhau.

Sao gọi là kết bạn như núi? Hòn núi vàng loài chim thú tụ về, lông cánh được chói màu vàng rực. Kết bạn cũng thế khi sang thì sang với nhau, khi vui đồng vui.

Sao gọi là kết bạn như đất? Tất cả mọi vật đều dựa đất mà sinh. Làm bạn để nuôi dưỡng ủng hộ, ân hậu không quên.

Nhà vua thưa:

- Nay trẫm biết cái trí suy nghĩ của trẫm còn cạn hẹp, tin theo lời tà siểm, khiến Ngài phải ra đi.

Hiền Nhân đáp: Người có trí có bốn việc không nên tin: Một là bạn tà ngụy; hai là bề tôi nịnh siểm; ba là vợ yêu nghiệt; bốn là con bất hiếu. Ấy là bốn cái không tin theo. Vì thế, kinh dạy: Bạn tà hại người, tôi nịnh hại triều, vợ yêu nghiệt phá nhà và con bất hiếu hại cả cha mẹ.

Nhà vua thưa:

- Trước kia trẫm yêu quý, hậu trọng Ngài, xin Ngài nghĩ lòng tốt của trẫm không nên bỏ đi vậy.

Hiền Nhân đáp:

- Có mười trạng thái tỏ cho biết là có yêu quý hậu trọng: một là xa nhau lâu không quên; hai là thấy nhau thì vui mừng; ba là có món ngon vật lạ san sẻ cho nhau; bốn là khi có lỡ lời, đừng chấp trách nhau; năm là nghe điều lành càng thêm vui vẻ; sáu là thấy việc dữ đem lời trung chính mà can gián; bảy là làm được những việc khó làm; tám là không đem chuyện riêng nói với người; chín là khi gặp việc bối rối phải giải quyết cho nhau; mười là đến lúc nghèo khổ không rời bỏ nhau. Nên trong kinh có dạy: "Bỏ dữ làm lành tu tập đúng như Pháp, đem lời trung chánh dạy dỗ, nghĩa hiệp, có đạo.”

Có tám việc biết là không ưa nhau: Một là thấy nhau mặt đổi sắc; hai là không liếc ngó, không thẳng thắn; ba là lời nói không ôn hòa; bốn là nói phải cho là quấy; năm là nghe lời suy bại thì vui thích; sáu là nghe lời hưng thịnh thì không vui; bảy là hủy bỏ chê bai việc tốt đẹp của người; tám là tán thành việc ác của người.

Nên trong kinh dạy rằng: "Lỡ đánh chết người, tội ấy còn có thể dung thứ; dùng tâm độc âm mưu để hại người, tâm niệm ấy không nên gần.”

- Thưa Hiền Nhân, trẫm là người ngu si, không biết phân biệt kẻ trí người ngu, nên nghe lời tà siểm, làm trái mất ý thánh nhân.

- Tâu đại vương có mười sự chứng tỏ đó là người trí: một là biết kẻ hiền, người ngu; hai là biết kẻ sang, người hèn; ba là biết kẻ giàu, người nghèo; bốn là biết việc nào khó việc nào dễ; năm là biết việc nào đáng bỏ, việc nào nên làm; sáu là biết nhiệm vụ của mình; bảy là vào nước nào biết được phong tục nước ấy; tám là biết được chỗ trở về; chín là học rộng hiểu nhiều; mười là biết được túc mạng. Mười việc đó chứng tỏ người có trí. Kinh dạy: "Khi tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau mới biết kẻ yếu người mạnh, có luận nghị mới biết được người trí người ngu, lúc cơm thua gạo kém mới biết người có lòng nhân.”

- Thưa Hiền Nhân, nước trẫm từ khi được Ngài giúp đỡ, trong ngoài đều được an ổn. Nếu nay Ngài bỏ ra đi thì trẫm biết nương nhờ ai.

- Tâu đại vương, có tám điều kiện để được an ổn: một là được của cha mẹ để lại; hai là có nghề nghiệp bảo đảm lấy sự sống của mình; ba là học thức cao; bốn là có bạn hiền; năm là có người vợ trinh lương; sáu là được người con hiếu thảo; bảy là tôi tớ được hòa thuận; tám là lìa xa việc ác.

- Thưa Hiền Nhân, lời của Thánh nhân thật không một ai nghe mà không thích.

- Tâu đại vương có tám cái thích: một là cùng làm việc với người hiền; hai là được học với bậc thánh nhân, ba là tánh thể nhân từ và ôn hòa; bốn là sự nghiệp mỗi ngày mỗi hưng thịnh; năm là diệt được tánh giận dữ; sáu là biết phòng ngừa tai nạn; bảy là biết nương gần đạo pháp; tám là bạn bè không dối gạt nhu.

- Thưa Hiền Nhân, Ngài thường khi dễ khuyên can mà sao nay lại khó cầm lắm thế?

- Tâu đại vương, có mười trường hợp khó có thể khuyên can: Một là tham lam che mất lương tri; hai là tham đắm sắc đẹp; ba là ưa danh vọng địa vị; bốn là kẻ ngang tàn bạo ngược; năm là kẻ nhút nhát; sáu là kẻ khờ khạo lừ đừ; bảy là kẻ kiêu ngạo buông lung; tám là người ưa đấu tranh; chín là người chấp tập tục si mê; mười là kẻ tiểu nhân. Kinh chép: "Nói pháp cho người ngu nghe cũng như nói với kẻ điếc, những ai khó hóa độ, thì không thể khuyên can.”

- Thưa Hiền Nhân, trẫm là kẻ kiêu ngạo lại thêm buông lung, chưa thể xa lìa được sắc đẹp, còn Ngài là người đã chứng pháp vô vi, lẽ nào không nói với trẫm nữa ?

- Tâu đại vương có mười trường hợp mà mình không nên nói với người: Một là kẻ ngạo mạn; hai là kẻ ngu độn; ba là kẻ hay lo sợ; bốn là kẻ ham vui chơi; năm là kẻ hay e lệ; sáu là kẻ câm ngọng; bảy là kẻ cừu hận; tám là kẻ đói lạnh; chín là kẻ mắc nhiều việc; mười là người đang tham thiền tịnh lự.

Trong kinh có câu: "Làm được hãy nên nói, làm không được thì đừng nói suông; lời hư ngụy không thành tín thì các bậc minh triết không thèm đoái đến.”

- Thưa Hiền Nhân, người đàn bà xinh đẹp, nói năng khôn khéo êm tai, mà trong thì độc ác, hai lòng thì căn cứ vào đâu mà hiểu họ được ?

- Tâu đại vương, có mười triệu chứng sẽ hiện diện cho ta thấy: Một là đầu tóc rối, bới nghiêng qua một bên; hai là mặt hay biến sắc và mồ hôi tự nhiên chảy; ba là lớn tiếng nói cười; bốn là hay liếc ngó, không đoan chính; năm là trang sức lộng lẫy; sáu là hay nhìn trộm qua kẽ vách; bảy là ngồi không yên; tám là hay dạo chơi trong xóm làng; chín là hay đi dạo ngoài đồng vắng; mười là hay giao thiệp với hạng dâm nữ.

- Thưa Hiền Nhân, quả thật cái đó đáng ghét lắm.

- Tâu đại vương, có năm cái đáng ghét: Một là ác khẩu hại người; hai là dèm pha siểm nịnh và thúc dục sự đấu tranh; ba là rầy rà không thuận hòa; bốn là ganh ghét và trù rủa; năm là nói hai lưỡi gạt người.

- Thưa Hiền Nhân, làm thế nào để người kính mến?

- Tâu đại vương, có năm tính tốt này thì được người cung kính:

Một là nhu hòa nhẫn nhục; hai là cung kính và có tín tâm; ba là mau mắn và ít nói; bốn là lời nói đi đôi với việc làm; năm là đối với bạn càng lâu càng thân hậu. Trong kinh có câu: "Nếu biết thương lấy mình thì phải dè dặt giữ mình. Các bậc hiền sĩ có chí hướng cao thượng học hiểu chính đáng thì không bao giờ lầm lạc.”

Nhà vua năn nỉ:

- Xin Ngài cùng trẫm trở lại Tinh xá.

Hiền Nhân đáp:

- Có mười kẻ mà mình không nên mời về nhà: Một là thầy ác; hai là bạn tà; ba là kẻ hay khinh bỉ bậc thánh; bốn là kẻ hay nói tráo trở; năm là kẻ dâm ô; sáu là người thèm rượu; bảy là kẻ có tánh xấu; tám là người không biết ân nghĩa; chín là đàn bà con gái mất nết; mười là kẻ tỳ thiếp ưa trang sức.

Nhà vua thưa:

- Được Ngài ở lại thì Trẫm cùng thiên hạ được an vui vô sự. Nay Ngài bỏ đi thì nhân dân oán trách Trẫm.

Hiền Nhân đáp lời:

- Có tám điều kiện để được an vui: Một là vâng thờ kính thuận các sư trưởng; hai là đem sự hiếu thuận dạy cho dân; ba là khiêm nhường kẻ trên người dưới; bốn là phải tập tánh nhân đức ôn hòa; năm là đến cứu người trong cơn nguy cấp; sáu là phải quên mình nghĩ đến người; bảy là phải thu thuế, lấy lãi ít và phải biết tiết kiệm; tám là bỏ hận thù xưa. Trong kinh có câu; "Chuyên tu cội đức, nghĩ trước rồi làm sau, cứu giúp người trong cơn nguy cấp và bần khổ, thì trọn đời được an vui.

- Thưa Hiền Nhân, trẫm luôn luôn nghĩ tới Hiền Nhân nào có bao giờ lãng quên.

- Tâu đại vương, bậc trí giả có mười hai điều luôn phải nghĩ tới không bao giờ lãng quên: Một là khi gà gáy sáng đã nghĩ tới tội lỗi mà lo việc phúc đức để đền bù lại; hai là nhớ việc hầu hạ tôn thân; ba là gặp việc gì phải suy nghĩ dự bị trước; bốn là phải lo nghĩ lánh xa sự nguy hại; năm là phải nghĩ trước mới nói sau để khỏi phải lạc lầm; sáu là phải đến những kẻ lạc lầm mà đem lời trung chính dạy bảo nhắc nhở họ; bảy là nghĩ đến những kẻ nghèo khổ để thương xót cấp hộ; tám là phải lo làm việc bố thí nếu mình có của; chín là phải nghĩ đến sự ăn uống cho có chừng mực; mười là phải nhớ giữ sự công bình khi phân xử hoặc phân chia; mười một là phải nhớ đem ân đức ban rải dân gian; mười hai là phải thường nghĩ đến sự huấn luyện nếu mình là quân sĩ hay vua quan. Đấy là mười hai điều mà người trí phải thường nghĩ đến. Vậy nên trong kinh có câu: "Làm việc gì phải lo dự bị trước, như vậy sự nghiệp sẽ mỗi ngày mỗi lớn, không khi nào thất bại.”

- Thưa Hiền Nhân, tiếc rằng trẫm không có một bậc đại hiền nào để cầu Hiền Nhân lại cho Trẫm.

Hiền Nhân lại tiếp:

- Bậc đại hiền có mười hạnh tốt: Một là học rộng hiểu nhiều; hai là không phạm giới luật trong kinh dạy; ba là kính thờ Tam Bảo; bốn là thọ pháp lành không quên; năm là kềm chế được tham sân si; sáu là tu được pháp bốn tâm bình đẳng; bảy là ưa làm việc ân đức; tám là không nhiễu hại chúng sinh; chín là hay hóa độ được người bất nghĩa; mười là không lầm lộn việc lành việc ác.

- Thưa Hiền Nhân, thực là tội trẫm quá nặng: nuôi dưỡng kẻ ác làm cho Ngài giận mà bỏ đi.

- Tâu đại vương kẻ đại ác thường được biểu hiện qua mười lăm tội nặng: Một là sát sanh; hai là trộm cắp; ba là quen thói dâm ô; bốn là dối trá; năm là nịnh hót; sáu là chuốt ngót; bảy là dèm pha; tám là khinh bậc hiền sĩ; chín là tham sự ô trược; mười là buông lung; mười một là say sưa; mười hai là ganh ghét kẻ hiền; mười ba là hủy báng đạo đức; mười bốn là sát hại thánh nhân; mười lăm là không kể tội lỗi.

- Thưa Hiền Nhân, trẫm năn nỉ Ngài mãi không được, lấy làm hổ thẹn quá.

- Tâu đại vương, người đời có mười cái hổ thẹn: Một là làm vua không hiểu chánh trị; hai là tôi thần mà vô lễ; ba là thọ ân không lo báo đáp; bốn là có tội lỗi không chịu chừa bỏ; năm là một vợ hai chồng hay một chồng hai vợ; sáu là chưa cưới mà có thai; bảy là tập hợp không


Nguồn :  http://giaohoiphatgiaovietnam.vn/s2/291-Kinh-Hien-Nhan.html
Các tin khác
  • 84 hình ảnh minh họa chú Đại Bi
  • THAM THIỀN CÙNG NIỆM PHẬT ( Hòa Thượng Hư Vân )
  • Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật
  • Kinh Bát Đại Nhân Giác Giảng Giải
  • Pháp bảo Đàn Kinh
  • Kinh tụng hoàn toàn tiếng Việt
  • Kinh Địa Tạng
  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Phim Hoạt Hình 3D Phật Giáo
  • Giảng giải Kinh
  • Kinh,luật và luận
  •       
    Video
       
        HY:diễu hành xe hoa Kính
        mừng  Đại Lễ   Phật Đản





    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Những thai nhi vô tội
    Tin nổi bật
    LỄ QUY Y TAM BẢO TẠI CHÙA PHÚC QUANG .
    NGÔI THẠCH TRỤ GHPGVN
    XEM NGÀYvà LỄ BÁI,XUẤT HÀNH XUÂN BÍNH THÂN...
    NHÌN NHẬN , NHẬN ĐỊNH, DƯ ĐOÁN
    “CHÂN THỰC BẤT HƯ”
    BÁO DÂN TRÍ XÚC PHẠM TÔN GIÁO ( ĐẠO PHẬT - NGÔI CHÙA )
    BBT báo lao động và báo thanh tra ... ...
    Trân trọng trao đổi và chia sẻ ...
    Nghiêm trì giới luật
    LỜI TỰ SỰ THÀNH TÂM NHẤT .
    Ngày trở về an cư bên Sư Phụ...
    Hưng Yên: Lễ khai giảng khóa tu mùa hè lần thứ 05
    Đức Pháp chủ quang lâm lễ khai pháp hạ trường PG tỉnh Hưng Yên
    Hưng Yên: Lễ khai khóa ACKH và cầu nguyện cho biển Đông
    HÌNH ẢNH và QUANG CẢNH ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN ....
    MỘT SỰ BẤT TÍN THÌ VẠN SỰ KHÔNG TIN ....
    “BIẾT THÌ THƯA THỚT,KHÔNG BIẾT DỰA CỘT MÀ NGHE…”
    Xuân về : lại nghĩ thân cò cũng như thân chim
    NGÔI CHÙA ĐI TRƯỚC VỀ SAU ( Khánh thành ngôi Tổ đường )`
    Người mẹ Liệt sĩ bị dồn vào chân tường...
    HOẰNG PHÁP HAY ỨNG PHÓ ĐẠO TRÀNG ĐỀU NÊN GIỮ GÌN CÁI GỐC
    Ý nghĩa ngày Rằm tháng Bảy, mùa báo hiếu của người con Phật
    SỰ GIA HỘ CỦA ĐỨC PHẬT
    Chuyện cảm động về 'thiên thần' bé nhỏ nơi cửa Phật
    XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐIỀU HÀNH BỞI ĐẠO PHÁP
    Vì sao cần niệm Phật?
    Hưng Yên: TT. Thích Chân Quang thuyết giảng tại chùa Bụt Mọc
    Hưng Yên: TT Thích Chân Quang chia sẻ Phật Pháp tại huyện Tiên Lữ
    Nguyên chủ tịch nước rất có tâm với Phật giáo và đã quy y TAM BẢO trả lời các nhà báo...
    Phân phát trái phép ấn phẩm văn hóa để truyền giáo
    Từ giờ đầu “khai bút” năm Nhâm Thìn đến ngày thứ 363 tiếp nối…
    Bình giải tập tục cúng sao hạn
    Hưng Yên : Hơn 100 người quy y Tam bảo ở chùa Mỹ Xá
    Vì sao lại niệm Nam mô A-di-đà Phật?
    Phật tử Park Geun hye đắc cử Tổng thống Hàn Quốc
    Đại Lễ Hoàn Nguyện tại Lâm Tỳ Ni thật mãn nguyện
    Một nghi thức PG được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể
    Ý nghĩa chữ Vạn ở trước ngực Tượng Phật ...
    Sự quan trọng của nếp sống Lục hoà đối với người học Phật
    Ý nghĩa lục hòa và chuyện quả cam
    Truyền hình AN VIÊN -AVG
    Lễ cầu siêu tại Đền thờ bờ Bắc sông Thạch Hãn ....
    NHỚ VỀ LỤC HÒA PHẢI TỰ CHỈNH ĐỐN...
    Phật giáo với việc cai trị đất nước
    Khai thị cho Phật tử chùa Quán Âm TP Hà Giang
    NÓI THẬT "trật lỗ tai"
    Chú tiểu 3 tuổi thực sự thông thái... tụng Thần Chú Đại bi...
    Xem video gọi Hồn Cụ Đề Thám
    Chùa Phúc Quang ( Phúc Quang Tự )
    Những thai nhi vô tội
    * TÂM THƯ THỈNH NGUYỆN
    Thực hư chuyện cậu bé 'đầu thai' ở Vụ Bản
    Ý nghĩa rằm tháng bảy
    Nhà ngoại cảm ĐOÀN VIỆT TIẾN - giải mã thông tin bằng năng lượng cảm xạ
    Cõi âm và khả năng ngoại cảm
    Đừng đánh mất các truyền thống tốt đẹp ngày Tết
    Ban Văn hóa TW làm việc với THPG Hưng Yên
    Quang cáo